Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHÚ TÂN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 277/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 26-4 - 2024

Về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con

khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Bùi Văn Chiến

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Đặng Văn Tác
  2. Ông Võ Văn Tám

- Thư ký phiên toà: Ông Trần Thiện Nhân - Thư ký Toà án nhân dân huyện Phú Tân.

Trong ngày 26 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 179/2024/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 3 năm 2024 về tranh chấp Hôn nhân và Gia đình “ Ly hôn, tranh chấp chấp nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 132/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 4 năm 2024 và Quyết định Hoãn phiên toà số 103/2024/QÐST - HNGĐ, ngày 16 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: chị Võ Thị Bạch T, sinh năm 1994.

Nơi cư trú: tổ C, khóm V, TT V, huyện C, tỉnh An Giang. Số điện thoại: 0915.413.xxx

2. Bị đơn: anh Lê Văn Đây N, sinh năm 1989.

Nơi cư trú: số A, ấp H, xã P, huyện P, tỉnh An Giang.

(chị T xin vắng mặt, anh N vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và quá trình hòa giải, nguyên đơn chị Võ Thị Bạch T trình bày:

Chị và anh Lê Văn Đ Nhỏ sau thời gian quen biết, tìm hiểu, đến năm 2015 thì sống chung như vợ chồng, không có tổ chức lễ cưới, cha mẹ đồng ý đến năm 2016 đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện P, tỉnh An Giang theo Giấy chứng nhận kết hôn số 104/2016 ngày 08 tháng 8 năm 2016. Thời gian đầu sống chung với gia đình anh N, vợ chồng cùng đi làm thuê để sinh sống, vợ chồng hạnh phúc đến khi chị mang thai thì giữa chị và anh N thường phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm do anh N ham ăn chơi, thường xuyên bia rượu với bạn bè mà không có trách nhiệm với vợ con, vợ chồng làm được bao nhiêu thì anh N tiêu xài hoang phí cho những cuộc vui tiệc tùng riêng mà không lo cho con nhỏ, chị đã khuyên anh N rất nhiều lần nhưng anh N không nghe mà còn bạo lực đánh chị, anh N hay ghen tuông mù quáng nên đã đánh chị nhiều lần gây thương tích, chị cũng có trình báo chính quyền địa phương nhưng anh N vẫn không thay đổi, từ đó cuộc sống và sinh hoạt của vợ chồng không hòa hợp, gần gũi, yêu thương, chăm sóc cho nhau, nên đã ly thân từ năm 2018 đến nay, thời gian ly thân anh N tính tình vẫn hung hăng không thay đổi anh N không có trách nhiệm với gia đình nên chị không muốn hàn gắn nữa, do tình cảm không còn chị yêu cầu được ly hôn với ông Lê Văn Đây N.

Về con chung: có 01 con chung tên Lê Thị Mỹ A, sinh ngày 23/6/2016, hiện do chị đang nuôi dưỡng. Nay ly hôn chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng, không yêu cầu anh N cấp dưỡng cho con.

Về tài sản chung và nợ chung: không có, không yêu cầu giải quyết.

* Anh Lê Văn Đây N vắng mặt từ khi Toà án thụ lý vụ án nên không có ý kiến trình bày.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Về người tham gia tố tụng: nguyên đơn chị Võ Thị Bạch T yêu cầu được vắng mặt khi xét xử, chị có ý kiến trình bày rõ ràng yêu cầu của mình; bị đơn anh Lê Văn Đây N đã được tống đạt các văn bản tố tụng cũng như triệu tập lần thứ 2 để nghe xét xử, nhưng anh vẫn vắng mặt, việc vắng mặt của anh, chị không ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án, nên HĐXX xét xử vắng mặt anh, chị theo Điều 227 và Điều 228 Bộ Luật Tố tụng dân sự để đảm bảo quyền lợi cho các bên.

[1.2] Về thẩm quyền giải quyết: hiện nay anh N cư trú tại ấp H, xã X, huyện P, tỉnh An Giang, nên chị T khởi kiện xin ly hôn là thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ Luật Tố tụng dân sự.

[1.3] Về quan hệ tranh chấp: Chị T xin ly hôn, và yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung nên quan hệ tranh chấp là “ Ly hôn và tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ Luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung: Xét chứng cứ có trong hồ sơ thể hiện, hôn nhân của anh, chị do hai người tự tìm hiểu, được cha mẹ hai bên đồng ý chung sống năm 2015, không tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện P, tỉnh An Giang, thời gian đầu chung sống hạnh phúc, sau đó phát sinh mâu thuẩn do anh N thường xuyên uống rượu với bạn bè thiếu quan tâm chăm sóc cuộc sống cho gia đình, rồi vợ chồng cải vã, chị T có khuyên ngăn, nhưng anh N không sửa chữa thay đổi bản thân, anh bỏ mặt cho chị T tự lo cuộc sống chăm sóc con, tuy sau khi ly thân anh cũng muốn hàn gắn nhưng anh không có thiện chí, nên chị T không đồng ý, từ đó tình cảm vợ chồng phai nhạt, mục đích hôn nhân không đạt được, nên chị T yêu cầu ly hôn với anh N là có căn cứ, phù hợp với lời trình bày của bà Võ Thị Á (dì ruột chị T), nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014.

- Về con chung: có 01 đứa tên Lê Thị Mỹ A, sinh ngày 23/6/2016, hiện do chị T đang nuôi dưỡng. Nay ly hôn chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng, không yêu cầu anh N cấp dưỡng cho con. Nhận thấy việc trông nom, chăm sóc giáo dục, nuôi dưỡng con sau khi ly hôn, vợ chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên đối với con chưa thành niên, chị T nuôi dưỡng chăm sóc cháu A cũng đảm bảo, cháu có nguyện vọng sống với chị T, để ổn định cho cuộc sống nên tiếp tục giao cháu A cho chị T nuôi dưỡng phù hợp với điều kiện của cháu về ăn học, do đó HĐXX giao cháu A cho chị T tiếp tục nuôi dưỡng đến thành niên hoặc tự lập được, anh N không phải cấp dưỡng cho con cũng phù hợp với Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình,

- Về tài sản chung và nợ chung: chị T khai không có, không yêu cầu Toà án giải quyết, nên không đặt ra xem xét

Ghi nhận chị T khai không có nợ chung, nhưng sau khi bản án ly hôn có hiệu lực pháp luật, nếu có đương sự xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì anh N, chị T phải liên đới chịu trách nhiệm với tư cách đồng bị đơn trong vụ án khác.

[3] Về án phí: Chị Võ Thị Bạch T là người xin ly hôn, nên phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ Điều 56 và Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ Luật Tố tụng Dân sự 2015;

- Căn cứ Điều 26 Luật Thi hành án dân sự;

- Căn cứ Điều 26, khoản 5 Điều 27, Điều 48 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Võ Thị Bạch T đối với anh Lê Văn Đây N.

- Về hôn nhân: chị Võ Thị Bạch T được ly hôn với anh Lê Văn Đây N.

- Về con chung: Tiếp tục giao cháu Lê Thị Mỹ A, sinh ngày 23/6/2016 cho chị Võ Thị Bạch T nuôi dưỡng đến thành niên hoặc tự lập được, anh Lê Văn Đ Nhỏ không phải cấp dưỡng cho con.

- Về tài sản chung; nợ chung phải thu, phải trả: không có.

- Về án phí dân sự sơ thẩm: chị Võ Thị Bạch T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn, được khấu trừ 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0006737 ngày 13/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Tân, anh Lê Văn Đây N không phải chịu án phí.

Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt hoặc niêm yết bản sao bản án.

Trường hợp bản án, được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sư, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND huyện PT;
  • - CCTHADS huyện PT;
  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - Lưu: hồ sơ vụ án, TA.

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Văn Chiến

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 277/2024/HNGĐ-ST ngày 26/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 277/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Võ Thị Bạch T đối với anh Lê Văn Đây N.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger