Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH

TỈNH NAM ĐỊNH

Bản án số: 277/2024/HS-ST

Ngày: 10-12-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Văn Trường

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Phạm Thị Loan

Bà Trần Thị Nhung

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Lam – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 12 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 276/2024/TLST-HS, ngày 22 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 276/2024/QĐXXST-HS, ngày 27 tháng 11 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Ngô Mạnh H; sinh năm: 1986; tại: tỉnh Nam Định; số căn cước công dân: [...]; nơi đăng ký thường trú: Số F đường T, phường V, thành phố N, tỉnh Nam Định; nơi cư trú: Số C đường T, phường V, thành phố N, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô Văn G và bà Phạm Thị Thúy H1; có vợ: Phạm Thị Thu H2 (đã ly hôn) và có 02 con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 04-10-2024, chuyển tạm giam từ ngày 13-10-2024. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố N. (Bị cáo có mặt tại phiên toà).
  2. Họ và tên: Đỗ Ngọc Đ; sinh năm: 1983; tại: tỉnh Nam Định; số căn cước công dân: [...]; Nơi đăng ký thường trú và nơi cư trú: Số F đường T, phường V, thành phố N, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Đình L và bà Trần Thị V; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 19-4-2019 Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định xử phạt 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 04-10-2024, chuyển tạm giam từ ngày 13-10-2024. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố N. (Bị cáo có mặt tại phiên toà).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ 50 phút ngày 03-10-2024, tổ công tác Công an phường L, thành phố N phát hiện Ngô Mạnh H đi bộ tại khu vực trước cửa khách sạn L1, địa chỉ A đường H, phường V, thành phố N có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra, thu giữ trong tay trái của H 01 túi ni lông màu trắng, kích thước khoảng (2x2) cm, bên trong có chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng (H khai là ma túy đá mua về để sử dụng). Tổ công tác niêm phong vật chứng lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Ngô Mạnh H và tạm giữ của H 01 điện thoại di động SamSung màu trắng, đã cũ.

Tại Cơ quan điều tra, Ngô Mạnh H khai nhận: Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 03-10-2024, H đi bộ từ nhà đến khu vực hồ V, đường H, phường V, thành phố N gặp Đỗ Ngọc Đ đứng cạnh xe máy (H không nhớ biển số xe) hỏi mua 300.000 đồng ma tuý đá, Đ đồng ý. H dùng số tài khoản 0905401986, ngân hàng M của mình chuyển 300.000 đồng đến tài khoản số 1029697177, ngân hàng V1 của Đỗ Ngọc Đ. Đ đưa cho H 01 túi ma túy đá. H cầm túi ma túy trong tay trái đi tìm nơi để sử dụng thì bị phát hiện, bắt giữ.

Căn cứ lời khai của Ngô Mạnh H, khoảng 01 giờ 10 phút ngày 04-10-2024, Công an phường L, thành phố N phối hợp cùng Công an phường V, thành phố N phát hiện Đỗ Ngọc Đ điều khiển xe máy biển kiểm soát 18H3-3393 tại khu vực trước cửa khách sạn L1, địa chỉ A đường H, phường V, thành phố N. Tiến hành kiểm tra, thu giữ trong túi quần phía trước bên phải của Đ đang mặc 01 ví da màu đen, bên trong có 01 túi nilông kích thước (11x7) cm, bên trong chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng (Đ khai là ma tuý đá mua về để bán kiếm lời). Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Đỗ Ngọc Đ và tạm giữ của Đ 01 chiếc ví da màu đen, 01 điện thoại di động Samsung, 01 xe máy nhãn hiệu Honda Lead, biển kiểm soát 18H3-3393, đều đã cũ. Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Đỗ Ngọc Đ ở địa chỉ 6 đường T, phường V, thành phố N không thu giữ gì.

Tại cơ quan điều tra, Đỗ Ngọc Đ khai nhận: Vào khoảng 12 giờ ngày 01-10-2024, Đ gặp người phụ nữ (không quen biết) ở khu vực đê S, phường V, thành phố N mua 02 túi ma túy đá: 01 túi có kích thước khoảng (2x2) cm và 01 túi kích thước khoảng (11x7) cm với giá 2.000.000 đồng để vào trong ví da, màu đen của Đ. Đến khoảng 20 giờ 30 phút ngày 03-10-2024, Đ bán cho H 01 túi ma tuý đá kích thước khoảng (2x2) cm với giá 300.000 đồng; còn lại 01 túi ma túy đá kích thước khoảng (11x7) cm nếu có người hỏi mua Đ sẽ bán với giá 2.700.000 đồng, bán hết số ma túy sẽ lãi được 1.000.000 đồng, chưa kịp bán thì bị phát hiện, bắt giữ.

Bản kết luận giám định số 1691/KL-KTHS ngày 08-10-2024 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: Mẫu rắn dạng tinh thể màu trắng trong 01 túi ni lông màu trắng kích thước khoảng (2x2) cm, được niêm phong gửi giám định là ma túy. Loại ma túy: Methamphetamine. Khối lượng mẫu: 0,325 gam; Mẫu rắn dạng tinh thể màu trắng trong 01 túi ni lông màu trắng kích thước khoảng (11x7) cm, được niêm phong gửi giám định là ma túy. Loại ma túy: Methamphetamine. Khối lượng mẫu: 4,893 gam.

Cơ quan điều tra xác định: Số tài khoản 0905401986, ngân hàng M của Ngô Mạnh H đã chuyển khoản số tiền 300.000 đồng mua ma túy đến số tài khoản 1029697177, ngân hàng V1 của Đỗ Ngọc Đ và ra lệnh phong tỏa số tiền 300.000 đồng trong tài khoản của Đ.

Cáo trạng số 279/CT-VKS-TPNĐ ngày 22-11-2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định đã truy tố bị cáo Ngô Mạnh H về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); truy tố bị cáo Đỗ Ngọc Đ về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 2 Điều 251 BLHS năm 2015, (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định giữ quyền công tố và luận tội: Giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tuyên bố bị cáo Ngô Mạnh H phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Ngô Mạnh H từ 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù đến 02 (H3) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 04-10-2024.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

- Căn cứ điểm i khoản 2, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tuyên bố bị cáo Đỗ Ngọc Đ phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Đỗ Ngọc Đ từ 07 (Bảy) năm 09 (Chín) tháng tù đến 08 (T) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 04-10-2024.

Phạt tiền bị cáo từ 5.000.000 đồng (Năm triệu) đến 7.000.000 đồng (Bảy triệu) sung vào ngân sách Nhà nước.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) phong bì niêm phong số 1691/KL-KTHS của Phòng K Công an tỉnh N.

- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 01 (Một) điện thoại di động màu trắng, nhãn hiệu SAMSUNG đã cũ, được niêm phong trong 01 túi niêm phong có mã số NS3.2155641 đã thu giữ của bị cáo Ngô Mạnh H và 01 (Một) điện thoại di động màu đen, nhãn hiệu SAMSUNG đã cũ, được niêm phong trong 01 túi niêm phong có mã số NS3.2155648 đã thu giữ của bị cáo Đỗ Ngọc Đ.

- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) là số tiền bị phong tỏa trong tài khoản số 1029697177 của Đỗ Ngọc Đ mở tại ngân hàng V1.

- Trả lại cho bị cáo Đỗ Ngọc Đ 01 (một) chiếc ví da màu đen đã cũ.

Tại phiên tòa, bị cáo Ngô Mạnh H và Đỗ Ngọc Đ thành khẩn khai nhận toàn hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã truy tố các bị cáo.

Các bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo Ngô Mạnh H và Đỗ Ngọc Đ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt, cho các bị cáo được hưởng mức án thấp nhất theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát để các bị cáo có cơ hội cải tạo thành công dân tốt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định của Cơ quan Cảnh sát điều tra công an thành phố N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo Ngô Mạnh H và Đỗ Ngọc Đ không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Lời khai nhận tội của các bị cáo Ngô Mạnh H và Đỗ Ngọc Đ trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa hôm nay phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 04-10-2024; biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ ngày 04-10-2024; biên bản khám xét ngày 04-10-2024; bản kết luận giám định số 1691/KL-KTHS ngày 08-10-2024 của Phòng K Công an tỉnh N; lời khai của những người làm chứng cùng các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở khẳng định:

Khoảng 20 giờ 50 phút ngày 03-10-2024, tại khu vực trước cửa khách sạn L1 địa chỉ A đường H, phường V, thành phố N, tỉnh Nam Định, Ngô Mạnh H đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,325 gam Methamphetamine mục đích để sử dụng thì bị phát hiện, bắt quả tang.

Khoảng 01 giờ 10 phút ngày 04-10-2024, tại khu vực trước cửa khách sạn L1 địa chỉ A đường H, phường V, thành phố N, tỉnh Nam Định, Đỗ Ngọc Đ đã có hành vi tàng trữ trái phép 4,893 gam Methamphetamine mục đích để bán kiếm lời thì bị phát hiện, bắt quả tang. Ngoài ra, vào khoảng 20 giờ 30 phút ngày 03-10-2024, Đỗ Ngọc Đ đã có hành vi bán trái phép 0,325 gam Methamphetamine cho Ngô Mạnh H. Như vậy tổng khối lượng Đỗ Ngọc Đ mua bán trái phép là 5,218 gam Methamphetamine.

Hành vi của các bị cáo Ngô Mạnh H và Đỗ Ngọc Đ là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự an toàn xã hội. Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi tàng trữ, mua bán ma túy của mình bị pháp luật nghiêm cấm nhưng các bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Bị cáo Ngô Mạnh H có hành vi tàng trữ trái phép 0,325 gam Methamphetamine mục đích để sử dụng nên bị cáo đã phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy", tội phạm và hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Bị cáo Đỗ Ngọc Đ có hành vi bán trái phép 0,325 gam Methamphetamine cho Ngô Mạnh H ngoài ra còn tàng trữ 4,893 gam Methamphetamine mục đích để bán kiếm lời. Tổng khối lượng Methamphetamine là 5,218 gam nên bị cáo Đỗ Ngọc Đ đã phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy", tội phạm và hình phạt quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[3] Về các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Ngô Mạnh H và Đỗ Ngọc Đ đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình nên các bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Ngô Mạnh H và Đỗ Ngọc Đ không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[4] Về hình phạt:

Hành vi phạm tội của bị cáo Ngô Mạnh H là nghiêm trọng, gây ảnh hưởng xấu đối với an ninh trật tự trên địa bàn thành phố N. Vì vậy, Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với hành vi phạm tội của bị cáo nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.

Hành vi phạm tội của bị cáo Đỗ Ngọc Đ là rất nghiêm trọng, gây ảnh hưởng xấu đối với an ninh trật tự trên địa bàn thành phố N. Bị cáo là người có nhân thân xấu, đã bị xét xử về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy mặc dù đã được xóa tích nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng rèn luyện mà lại tiếp tục thực hiện hành vi bán trái phép chất ma túy. Vì vậy, Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với hành vi phạm tội của bị cáo nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.

[5] Về hình phạt bổ sung:

Xét thấy bị cáo Ngô Mạnh H tàng trữ ma túy nhằm mục đích sử dụng cho bản thân, bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Đối với bị cáo Đỗ Ngọc Đ bán ma túy mục đích thu lợi bất chính nên Hội đồng xét xử sẽ áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng:

- Số ma túy đã thu giữ gồm: 01 (Một) phong bì niêm phong số 1691/KL-KTHS của Phòng K Công an tỉnh N là vật Nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.

- 01 (Một) điện thoại di động màu trắng, nhãn hiệu SAMSUNG đã cũ, được niêm phong trong 01 túi niêm phong có mã số NS3.2155641 đã thu giữ của bị cáo Ngô Mạnh H và 01 (Một) điện thoại di động màu đen, nhãn hiệu SAMSUNG đã cũ, được niêm phong trong 01 túi niêm phong có mã số NS3.2155648 đã thu giữ của bị cáo Đỗ Ngọc Đ các bị cáo dùng vào việc phạm tội cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.

- Số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) là tiền bị cáo Đỗ Ngọc Đ bán ma túy cho bị cáo Ngô Mạnh H, hiện đang bị phong tỏa trong tài khoản số 1029697177 của Đỗ Ngọc Đ mở tại ngân hàng V1 cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.

- 01 (Một) chiếc ví da màu đen đã cũ đã thu giữ của bị cáo Đỗ Ngọc Đ xét không liên quan đến vụ án, cần trả lại cho bị cáo.

[7] Về các vấn đề khác trong vụ án:

Cơ quan điều tra xác minh đối tượng bán ma túy cho Đỗ Ngọc Đ ở khu vực đê Sông Đ, phường V, thành phố N theo lời khai của Đ nhưng không xác định đối tượng có đặc điểm như Đ khai nên tách ra điều tra, xử lý sau.

Chiếc xe máy biển kiểm soát 18H3-3393 là tài sản của chị Đỗ Thị H4, sinh năm 1981, trú tại F P, phường L, thành phố N; chị H4 không biết Đ mượn xe đi mua bán ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N đã trả lại xe cho chị H4.

[8] Về án phí:

Các bị cáo Ngô Mạnh H và Đỗ Ngọc Đ bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

    Tuyên bố bị cáo Ngô Mạnh H phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

    Xử phạt bị cáo Ngô Mạnh H 01 (Một) năm 06 (S) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 04-10-2024.

  2. Căn cứ điểm i khoản 2, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

    Tuyên bố bị cáo Đỗ Ngọc Đ phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.

    Xử phạt bị cáo Đỗ Ngọc Đ 07 (Bảy) năm 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 04-10-2024.

    Phạt tiền bị cáo 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng) sung vào ngân sách Nhà nước.

  3. Xử lý vật chứng:

    Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

    Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) phong bì niêm phong số 1691/KL-KTHS của Phòng K Công an tỉnh N.

    Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) hiện đang bị phong tỏa trong tài khoản số 1029697177 của Đỗ Ngọc Đ mở tại ngân hàng V1; 01 (Một) điện thoại di động màu trắng, nhãn hiệu SAMSUNG đã cũ, được niêm phong trong 01 túi niêm phong có mã số NS3.2155641; 01 (Một) điện thoại di động màu đen, nhãn hiệu SAMSUNG đã cũ, được niêm phong trong 01 túi niêm phong có mã số NS3.2155648 đã thu giữ của bị cáo Đỗ Ngọc Đ.

    Trả lại cho bị cáo Đỗ Ngọc Đ 01 (một) chiếc ví da màu đen đã cũ.

    (Vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng số 53/YCN/25, ngày 03-12-2024)

  4. Án phí:

    Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Căn cứ Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

    Bị cáo Ngô Mạnh H phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

    Bị cáo Đỗ Ngọc Đ phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  5. Quyền kháng cáo:

    Bị cáo Ngô Mạnh H và Đỗ Ngọc Đ có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án có quyền tự nguyện thi hành hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

- TAND tỉnh Nam Định;

- VKSND tỉnh Nam Định;

- VKSND TP. Nam Định;

- Chi cục THADS TP. Nam Định;

- Bị cáo;

- Lưu hồ sơ./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Văn Trường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 277/2024/HS-ST ngày 10/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH về vụ án hình sự sơ thẩm về tội tàng trữ trái phép chất ma túy và mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 277/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự sơ thẩm về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: .
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger