Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẾN CÁT

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 277/2024/HS-ST

Ngày: 13-11-2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Hồng Diễm Phúc.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Trần Thị Ngọc Hạnh;
  2. Bà Nguyễn Kim Lý.

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Hương Giang - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Kim Hương - Kiểm sát viên.

Vào ngày 13 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 289/2024/TLST-HS ngày 23 tháng 11 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 218/2024/QĐXXST-HS ngày 23/11/2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn T, sinh năm 1988 tại Nghệ An; Nơi thường trú: Thôn Y, xã V, huyện T, tỉnh Nghệ An; nơi ở: Khu phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dương; trình độ học vấn: 9/12; nghề nghiệp: không; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn D và bà Lê Thị K; bị cáo có 04 anh chị, lớn nhất sinh năm 1979, nhỏ nhất sinh năm 1988; vợ tên Lê Thị G, sinh năm 1990; bị cáo có 01 con, sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: không;

Nhân thân: Ngày 31/5/2005, bị Toà án nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An xử phạt 12 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Trộm cắp tài sản” đối theo Bản án số 09/2005/HSST (đã chấp hành hình phạt và án phí xong).

Bị cáo bị bắt giữ trong trường hợp đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B từ ngày 23/02/2024 cho đến nay; có mặt.

Bị hại: Công ty Trách nhiệm hữu hạn D1; Địa chỉ trụ sở: Khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dương. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Hữu K1, sinh năm 1976; địa chỉ: Số A N, khu phố B, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  1. Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1981; Nơi thường trú: Khu phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dương. Có mặt.
  2. Bà Nguyễn Hoài T1, sinh năm 1987; địa chỉ: Thôn T, xã Đ, huyện M, Thành phố Hà Nội. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn T là đối tượng nghiện ma tuý, ở trọ tại khu vực khu phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dương. T từng làm tài xế tại Công ty Trách nhiệm hữu hạn D1 (gọi tắt là công ty D1) thuộc khu phố C, phường T, thành phố B. Khoảng tháng 10/2022, công ty D1 phát hiện Trường có sử dụng ma tuý nên cho T thôi việc. Do đang thất nghiệp, không có tiền mua ma tuý sử dụng và biết bên trong công ty D1 có để nhiều máy móc, sắt thép không có người trông coi nên T nảy sinh ý định trộm cắp tài sản của công ty D1 để bán lấy tiền. Từ tháng 01/2024 đến ngày 22/02/2024, T đã 05 lần trèo qua hàng rào vào công ty D1 để trộm cắp tài sản, cụ thể như sau:

  • - Lần thứ nhất: Khoảng 00 giờ ngày trong tháng 01/2024, T lấy trộm được 02 bình ắc quy hiệu Đồng Nai N85 gắn trên xe nâng và 50kg sắt phế liệu dạng thanh ngắn. Sau khi trộm được tài sản, T mang về nhà cất giấu đến sáng rồi đem bán cho 01 người thu mua phế liệu (không rõ lai lịch) được số tiền là 700.000 đồng.
  • - Lần thứ hai (cách lần thứ nhất khoảng 07 ngày): Khoảng 00 giờ, T lấy trộm được 01 súng bắn hơi hiệu Rotake và 01 đội hơi để nâng xe. Sau đó, T đem tài sản trộm được bán cho 01 người thu mua phế liệu (không rõ lai lịch) được số tiền là 520.000 đồng.
  • - Lần thứ ba (cách lần thứ hai khoảng 07 ngày): Trường lấy trộm được 02 tấm sắt nặng 80kg và khoảng 30kg sắt phế liệu. Sau đó, T đem tài sản trộm được bán cho 01 người người thu mua phế liệu (không rõ lai lịch) được số tiền 860.000 đồng.
  • - Lần thứ tư (cách lần thứ 3 khoảng 07 ngày): Trường lấy trộm được khoảng 60kg sắt vụn. Sau đó, T đem tài sản trộm được bán cho 01 người thu mua phế liệu (không rõ lai lịch) được số tiền là 470.000 đồng.
  • - Lần thứ năm: Khoảng 00 giờ ngày 22/02/2024, T trèo qua hàng rào vào công ty D1 và đi đến khu vực gần chỗ đậu xe container để quan sát tìm tài sản lấy trộm thì bị ông Nguyễn Xuân A (sinh năm 196; nơi thường trú: Phường N, thị xã A, tỉnh Bình Định) là bảo vệ của công ty D1 phát hiện, truy đuổi nhưng T bỏ chạy thoát. Sau khi về nhà, T nghĩ bảo vệ công ty D1 đã phát hiện, sẽ trình báo đến cơ quan công an nên T đến Công an phường T đầu thú.

Vật chứng thu giữ: 01 cưa cầm tay; 01 kềm; 01 cờ lê; 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen, gắn sim thuê bao số 0342.993.960; 01 xe mô tô hiệu SYM Attila màu xanh, biển số 29H1-483.87.

Theo Kết luận định giá tài sản số 22/KL-HĐĐGTS ngày 04/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B, kết luận: 01 súng bắn hơi hiệu Rotake trị giá 3.330.000 đồng, 02 bình ắc quy hiệu Đồng Nai N85 trị giá 1.160.000 đồng, 01 cân đội hơi trị giá 1.000.000 đồng và 220kg sắt phế liệu trị giá 1.540.000 đồng.

Về xử lý vật chứng:

  • - Đối với xe mô tô hiệu SYM Attila màu xanh, biển số 29H1-483.87 do chị Nguyễn Hoài T1 (sinh năm 1987; nơi thường trú: Thôn T, xã Đ, huyện M, Thành phố Hà Nội) đứng tên chủ sở hữu. Khoảng năm 2020, chị T1 bán xe cho anh Nguyễn Văn H (sinh năm 1981; nơi thường trú: Khu phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dương) là anh của T sau đó Anh H cho T mượn xe để sử dụng. Ngày 09/8/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Bến Cát giao trả xe cho anh Nguyễn Văn H.
  • - Đối với 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen, gắn sim thuê bao số 0342.993.960 của Nguyễn Văn T, T không sử dụng điện thoại trên để thực hiện hành vi phạm tội. Ngày 09/8/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Bến Cát giao trả điện thoại cho T.

Về trách nhiệm dân sự: Đại diện công ty D1 là anh Nguyễn Hữu K1 (sinh năm 1976, nơi thường trú: Số A N, khu phố B, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh) không yêu cầu bồi thường thiệt hại và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho Nguyễn Văn T

Tại Bản Cáo trạng số 291/CT-VKSBC ngày 23/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T mức hình phạt từ 10 tháng tù đến 12 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Đại diện theo ủy quyền của công ty D1 ông Nguyễn Hữu K1 không yêu cầu bồi thường thiệt hại nên không xem xét giải quyết.

Về biện pháp tư pháp: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiêu hủy 01 cưa cầm tay, 01 kềm, 01 cờ lê.

Trong quá điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến về quyết định truy tố của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát và nội dung bản Cáo trạng số 291/CT-VKSBC ngày 23/10/2024.

Bị cáo không đưa ra chứng cứ, tài liệu và lập luận gì để đối đáp với Kiểm sát viên về nội dung luận tội của Kiểm sát viên.

Tại phiên tòa, bị cáo đều không có ý kiến tranh luận. Lời nói sau cùng: Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt để bị cáo có cơ hội cải tạo trở thành công dân tốt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, Kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là phù hợp với quy định của pháp luật.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản hỏi cung bị can, biên bản ghi lời khai của đại diện bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan cùng những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận:

Từ khoảng tháng 01/2024 đến khoảng ngày 22/02/2024 tại công ty D1 thuộc khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dương, Nguyễn Văn T có hành vi lén lút lấy trộm 01 súng bắn hơi hiệu Rotake, 02 bình ắc quy hiệu Đồng Nai N85, 01 cân đội hơi và 220kg sắt phế liệu để bán lấy tiền tiêu xài và mua ma tuý. Tổng giá trị tài sản là 7.030.000 đồng (Theo Kết luận định giá tài sản số 22/KL-HĐĐGTS ngày 04/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B). Hành vi mà bị cáo đã thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Hội đồng xét xử nhận định hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại trực tiếp đến quyền sở hữu đối với tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Về nhận thức, bị cáo biết rõ hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vì động cơ tư lợi, lười lao động bị cáo đã bất chấp pháp luật thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Bị cáo có năng lực trách nhiệm hình sự. Do vậy, Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát truy tố bị cáo theo tội danh và điều khoản nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hội đồng xét xử quyết định hình phạt đối với bị cáo tương xứng với tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cần xem xét toàn diện tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo.

Về nhân thân: Ngày 31/5/2005, bị Toà án nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An xử phạt 12 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Trộm cắp tài sản” đối theo Bản án số 09/2005/HSST (đã chấp hành hình phạt và án phí xong).

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, sau khi phạm tội bị cáo đã đầu thú, đại diện bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Đối chiếu với những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử quyết định áp dụng biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước là hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian không chỉ nhằm trừng trị bị cáo mà còn giáo dục bị cáo ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, ngăn ngừa bị cáo phạm tội mới; đồng thời có tác dụng giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm. Do đó, ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên về tội danh, điều khoản, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, mức hình phạt và các vấn đề khác đối với bị cáo là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3] Về trách nhiệm dân sự: Đại diện bị hại ông Nguyễn Hữu K1 không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét

[4] Về biện pháp tư pháp: Đối với 01 cưa cầm tay, 01 kềm, 01 cờ lê là phương tiện thực hiện tội phạm cần tịch thu tiêu hủy.

[5] Án phí sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về trách nhiệm hình sự:

    Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

  2. Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T mức hình phạt 10 (mười) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 23/02/2024.
  3. Về biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

    Tịch thu tiêu hủy 01 cưa cầm tay, 01 kềm, 01 cờ lê.

    (Thể hiện tại Biên bản giao nhận vật chứng ngày 06/11/2024 giữa Công an thành phố Bến Cát và Chi cục thi hành án dân sự thành phố B).

  4. Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

    Buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND tỉnh Bình Dương;
  • - Công an tỉnh Bình Dương (PV06);
  • - Sở tư pháp tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND thành phố Bến Cát;
  • - Công an thành phố Bến Cát;
  • - Chi cục THADS thành phố B;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: HS, Tòa.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phan Hồng Diễm Phúc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 277/2024/HS-ST ngày 13/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG về hình sự - trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 277/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội "Trộm cắp tài sản"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger