TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 277/2024/HS-ST Ngày: 18/9/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐÓNG ĐA - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vương Thùy Dương
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Bá Lung
Ông Nguyễn Hải Phùng
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Hương - Thư ký Tòa án nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Bà Lương Thúy Hà – Kiểm sát viên
Ngày 18 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội, xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 263/2024/TLST-HS ngày 30 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 286/2024/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:
PHẠM VĂN ĐẠT, sinh ngày 11/5/1992; giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Nơi ĐKHKTT: Xóm Q, xã H, huyện H, Nam Định. Nơi ở hiện tại: P2911 R1 05 Vinhomes O, thị trấn T, huyện G, thành phố Hà Nội. Trình độ văn hoá: 12/12. Nghề nghiệp: Tự do. Đảng viên: Không. Con ông: Phạm Văn T, sinh năm 1963; Con bà: Lã Thị H, sinh năm 1967. Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất. Vợ: Phạm Thị N, sinh năm 1992. Có 01 con, sinh năm 2014. Đ chỉ bản số 252 lập ngày 29/3/2024 tại Công an quận Đ, thành phố Hà Nội. Tiền án, tiền sự: Không.
Bị bắt ngày 20/3/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ, Công an quận Đ, thành phố Hà Nội. Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ 50 phút ngày 20/3/2024, tổ công tác Công an phường T tuần tra địa bàn phát hiện Phạm Văn Đ giao 01 chiếc balo màu vàng cho Nguyễn Huy H1 (sinh năm 1992; HKTT: phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ) tại trước số nhà D phố T, phường T, quận Đ, Hà Nội, có biểu hiện nghi vấn. Sau khi nhận túi balo thì H1 điều khiển xe máy BKS: 19G1-249.42 đến ngõ F T, phường T, quận Đ, TP Hà Nội. Còn Đ đi bộ từ 426 T đến trước số A, ngõ F T, phường T, quận Đ, TP Hà Nội thì bị cơ quan công an kiểm tra. Quá trình tổ công tác đang kiểm tra Đ, thì H1 đi đến và cũng bị kiểm tra. Qua kiểm tra, phát hiện và thu giữ ở móc treo bên trái xe máy mà H1 điều khiển 01 balo màu vàng bên trong có 01 gói giấy màu trắng chứa 03 viên nén màu đen hình chữ nhật. Tổ công tác đã lập biên bản tạm giữ, niêm phong tang vật và đưa cả hai về trụ sở để làm rõ. Ngoài ma tuý, cơ quan công an còn tạm giữ của Đ 01 điện thoại Iphone 12 Pro màu đen số imei: 357171851025955.
Tại bản Kết luận giám định số 2270/KL-KTHS ngày 29/3/2024 của Phòng K - Công an thành phố H, kết luận: “03 viên nén hình chữ nhật màu đen bên trong 01 gói giấy ăn màu trắng đều là ma túy loại MDMA, tổng khối lượng: 1,321 gam”.
Tại cơ quan điều tra, Đ khai nhận hành vi phạm tội của mình: Khoảng 12 giờ ngày 20/3/2024, Đ được tài khoản Zalo tên “T1” rủ mua ma túy để cả 02 cùng sử dụng đồng thời hẹn gặp ở khu vực ngõ F T, phường T, quận Đ, TP Hà Nội. Đ đồng ý rồi đặt mua 03 viên ma túy thuốc lắc của 01 người sử dụng số điện thoại 0703.513.xxx với giá 1.600.000đ. Sau khi Đ chuyển khoản số tiền 1.600.000₫ đến tài khoản số 0842144333 tại ngân hàng M1 thì đến khoảng 19 giờ ngày 20/3/2024, một nam thanh niên sử dụng số điện thoại 0398.393.xxx đến giao cho Đ 01 chiếc balo chứa 03 viên ma túy thuốc lắc tại trước số D, phố T. Biết bên trong balô có chứa ma túy nên Đ đã thuê Nguyễn Huy H1 vận chuyển chiếc balo này đến cho T1. Do T1 không ra nhận, nên Đ đã đi ra chỗ H1 để lấy lại balo chứa ma túy, thì bị tổ công tác Công an phường T kiểm tra, phát hiện bắt giữ như đã nêu trên. Đ không nói cho H1 biết bên trong ba lô có ma túy.
Nguyễn Huy H1 khai nhận: H1 chỉ là xe ôm được Đ thuê vận chuyển balo đến T. H1 không biết bên trong ba lô có ma túy và không liên quan đến hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy của Đ, nên cơ quan điều tra không đề cập xử lý.
Đối với đối tượng rủ Đ đi sử dụng ma túy, tại cơ quan điều tra, Đ khai: Đ chưa gặp mặt bao giờ, không biết tên tuổi, địa chỉ nhà ở đâu, chỉ biết người này sử dụng tài khoản Zalo “T1”. Qua xác minh tại Công ty cổ phần V1 không xác định được người đang sử dụng tài khoản Zalo “Trinh”. Do không xác định được nhân thân đối tượng rủ Đ đi sử dụng ma túy nên cơ quan điều tra không làm rõ để xử lý được.
Đối với người giao ma túy cho Đ, Đ không biết tên tuổi, địa chỉ nhà ở đâu. Đ không nhớ đặc điểm nên nếu gặp lại thì không nhận dạng được. Đ cho biết người này mặc quần áo “Be” và sử dụng số điện thoại 0398.393.xxx. Qua xác minh tại Tập đoàn C1 xác định chủ đăng ký số thuê bao trên là Nguyễn Tiến V (sinh ngày 07/3/2002; trú tại thôn N, xã N, huyện C, Hà Nội). Qua ghi lời khai, anh V cho biết bản thân là xe ôm công nghệ “Be”. Khoảng 19h00' ngày 20/3/2024, anh V đi trên đường thì được một nam thanh niên không quen biết vẫy lại và thuê V mang chiếc balo màu vàng từ C - L, Hà Nội đến phố T, quận Đ, Hà Nội. Anh V không biết bên trong ba lô có chứa ma túy, nên cơ quan điều tra không để cập xử lý.
Đối với đối tượng bán ma túy cho Đ, tại cơ quan điều tra, Đ khai: chưa gặp mặt bao giờ, không biết tên tuổi, địa chỉ nhà ở đâu, chỉ biết người này sử dụng số điện thoại 0703.513.xxx và tài khoản số 0842144333 của Ngân hàng TMCP Q (M1).
Đối với số ma túy và 01 điện thoại di động Iphone 12 Pro, màu đen thu giữ của Phạm Văn Đ, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an quận Đ đã chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự quận Đống Đa để xử lý theo quy định của pháp luật.
Bản Cáo trạng số 269/CT-VKSĐĐ ngày 29/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa truy tố Phạm Văn Đạt về tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa: Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa sau khi phân tích, đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội cũng như xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo vẫn giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 47 củaBộ luật Hình sự xử phạt Phạm Văn Đ 18 tháng đến 22 tháng tù; miễn hình phạt tiền do bị cáo không có thu nhập ổn định, tịch thu tiêu hủy ma túy, chiếc balô màu vàng là tang vật trong vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Đ, thành phố Hà Nội, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Về hành vi phạm tội và tội danh: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người làm chứng, Kết luận giám định số 2270/KL-KTHS ngày 29/3/2024 của Phòng K - Công an thành phố H; vật chứng đã thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 18h50 phút ngày 20/3/2024, tại khu vực trước số nhà A, ngõ F phố T, phường T, quận Đ, Hà Nội Phạm Văn Đ có hành vi tàng trữ trái phép 1,321 gam ma túy MDMA với mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị tổ công tác Công an phường T kiểm tra, bắt giữ.
Hành vi nêu trên của bị cáo Phạm Văn Đ đã phạm vào tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy", tội danh và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong quá trình giải quyết vụ án, nhân thân chưa có tiền án tiền sự, lần đầu bị đưa ra xét xử, nên Hội đồng xét xử xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo theo quy định tại điểm s, khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Về nhân thân: Không có tiền án, tiền sự.
- Về hình phạt: Hành vi của bị cáo là nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chính sách độc quyền về quản lý các chất ma túy của Nhà nước, không những gây mất trật tự trị an xã hội, đồng thời là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác, làm cho tệ nạn ma túy ngày càng gia tăng. Vì vậy, tuy khối lượng ma túy do Đ tàng trữ không lớn, nhưng thể hiện bị cáo là người coi thường pháp luật nên cần xử phạt nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục và răn đe, phòng ngừa chung.
- Về vật chứng:
Tịch thu, tiêu hủy số ma túy đã thu giữ của bị cáo.
Đối với số ma túy và 01 điện thoại di động Iphone 12 Pro màu đen thu giữ của Phạm Văn Đ, Công an quận Đ đã chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự quận Đống Đa để xử lý theo quy định của pháp luật.
- Các vấn đề khác:
Đối với đối tượng bán ma túy cho Đ, tại cơ quan điều tra, Đ khai: chưa gặp mặt bao giờ, không biết tên tuổi, địa chỉ nhà ở đâu, chỉ biết người này sử dụng số điện thoại 0703.513.xxx và tài khoản số 0842144333 của Ngân hàng TMCP Q (M1):
- Qua xác minh tại Công ty D2 xác định chủ đăng ký số thuê bao trên là Trần Văn M (sinh ngày 20/4/1993; trú tại thôn T, xã Đ, huyện G, Hà Nội). Anh M cho biết từ khoảng tháng 01/2023 đến cuối tháng 06/2024, anh đã bán trả góp số thuê bao 0703513333 cho Ngô Anh T2 (sinh năm 2001; trú tại tổ A, phường C, quận L, Hà Nội) sử dụng. Quá trình bán sim số thuê bao trên cho T2, anh M không sử dụng và không biết T2 sử dụng sim số này vào mục đích gì.
- Qua xác minh tại ngân hàng M1 xác định tài khoản chủ đăng ký số tài khoản 0842144333 là Ngô Anh T2 (sinh ngày 11/11/2001, địa chỉ thuờng trú: tổ A phường C, quận L, Hà Nội, số điện thoại: 0703.513.xxx). Ngô Anh T2 khai nhận: T2 sử dụng số thuê bao 0703513333 và số tài khoản 0842144333. Hàng ngày, có nhiều người gọi điện hoặc chuyển khoản đến cho T2 nên T2 không nhớ được các nội dung cuộc gọi hoặc số tiền chuyển đến với mục đích gì. T2 không quen biết Đ và không thừa nhận việc đã bán ma túy cho Đ. Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án chưa đủ chứng minh T2 liên quan đến việc mua bán trái phép chất ma túy với Đ. Như vậy, đối với đối tượng bán ma túy cho Đ, Cơ quan Điều tra không làm rõ để xử lý được, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự;
Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Xử phạt: Phạm Văn Đ 14 (mười bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 20 tháng 3 năm 2024
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Phạm Văn Đ.
- Về xử lí vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
- - Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động Iphone 12 Pro, màu đen, số imei: 357171851025955, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng và nội dung bên trong);
- - Tịch thu tiêu huỷ:
- + 01 ba lô màu vàng đã qua sử dụng
- + 01 phong bì niêm phong dán kín có chữ kí giáp lai của đối tượng Phạm Văn Đ, chữ kí cán bộ Công an phường D, người chứng kiến Nguyễn Huy H1, Nguyễn Đức D1 và giám định viên Trần Ngọc C cùng hình dấu trên các mép dán. Niêm phong này 20/3/2024 theo Biên bản giao nhận vật chứng số ... của Chi cục Thi hành án dân sự quận Đống Đa
- (Theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 295 ngày 30/8/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Đống Đa, thành phố Hà Nội).
- Về án phí: Áp dụng Điều 135 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự:
Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vương Thùy Dương |
Bản án số 277/2024/HS-ST ngày 18/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tàng trữ trái phép chất ma tuý (tội phạm hình sự)
- Số bản án: 277/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý (Tội phạm hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 1. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự; Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn Đạt phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Xử phạt: Phạm Văn Đạt 14 (mười bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 20 tháng 3 năm 2024 Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Phạm Văn Đạt. 2. Về xử lí vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự. - Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động Iphone 12 Pro, màu đen, số imei: 357171851025955, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng và nội dung bên trong); - Tịch thu tiêu huỷ: + 01 ba lô màu vàng đã qua sử dụng + 01 phong bì niêm phong dán kín có chữ kí giáp lai của đối tượng Phạm Văn Đạt, chữ kí cán bộ Công an phường Dương Tiến Đạt, người chứng kiến Nguyễn Huy Hoàng, Nguyễn Đức Duy và giám định viên Trần Ngọc Chinh cùng hình dấu trên các mép dán. Niêm phong này 20/3/2024 theo Biên bản giao nhận vật chứng số .... của Chi cục Thi hành án dân sự quận Đống Đa (Theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 295 ngày 30/8/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Đống Đa, thành phố Hà Nội). 3. Về án phí: Áp dụng Điều 135 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm 4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
