TÒA ÁN NHÂN DÂN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 277/2024/HNGĐ-ST |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Châu Vũ Sơn.
- - Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Thanh Liêm;
- Bà Phan Thị Nga.
Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Tiểu Ngọc, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Thụy Thùy Trang – Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 322/2022/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 3 năm 2022 “Tranh chấp hôn nhân và gia đình ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 517/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 443/2024/QĐST-HNGĐ ngày 27 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Ánh M, sinh năm 1976; địa chỉ: số D, ấp M, xã M, huyện C, tỉnh An Giang; địa chỉ liên lạc: số H, ấp H, xã H, huyện C, tỉnh An Giang; có mặt.
- Bị đơn: Ông Lê Văn P, sinh năm 1974: địa chỉ: số D, ấp M, xã M, huyện C, tỉnh An Giang; có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Nguyễn Thị Cẩm N1, sinh năm 1991: địa chỉ: ấp M, xã M, huyện C, tỉnh An Giang; có ý kiến xin xét xử vắng mặt.
- Bà Huỳnh Ánh N2, sinh năm 1957; địa chỉ: số H, ấp H, xã H, huyện C, tỉnh An Giang; có mặt.
- Anh Lê Phú Q, sinh năm 1999: địa chỉ: số D, ấp M, xã M, huyện C, tỉnh An Giang, có ý kiến xin vắng mặt.
- Ông Nguyễn Văn M1, sinh năm 1964: địa chỉ: ấp M, xã M, huyện C, tỉnh An Giang (chết)
- Bà Lê Thị T, sinh năm 1969: địa chỉ: ấp M, xã M, huyện C, tỉnh An Giang; vắng mặt.
- Anh Nguyễn Trọng H, sinh năm 1994: địa chỉ: ấp M, xã M, huyện C, tỉnh An Giang; vắng mặt.
- Anh Nguyễn Trọng H1, sinh năm 1996: địa chỉ: ấp M, xã M, huyện C, tỉnh An Giang; văng mặt.
- Cháu Nguyễn Trọng D, sinh năm 2001: địa chỉ: ấp M, xã M, huyện C, tỉnh An Giang; vắng mặt.
- Cháu Nguyễn Quốc A, sinh năm 2016: địa chỉ: ấp M, xã M, huyện C, tỉnh An Giang.
- Cháu Nguyễn Thị Tuyết M2, sinh năm 2017: địa chỉ: ấp M, xã M, huyện C, tỉnh An Giang.
- Người thừa kế quyền và nghĩa vụ tham gia tố tụng của ông M1
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn là luật sư Bùi Quốc N, thuộc công ty L – T, Đoàn luật sư Thành Phố C, có mặt.
Người đại diện theo pháp luật cho cháu Nguyễn Quốc A, cháu Nguyễn Thị T1 là anh Nguyễn Trọng H.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện, tờ tự khai cung cấp trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bà nguyên đơn Nguyễn Thị Ánh M trình bày, sau thời gian tự tìm hiểu bà và ông P do mai mối và được cha mẹ hai bên tổ chức lễ cưới vào năm 1997, vợ chồng có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện C, tỉnh An Giang, vợ chồng sống chung hạnh phúc đến năm 2018 thì không còn chung sống với nhau nữa, nguyên nhân sống không tình cảm, bất đồng quan điểm, không hợp nhau, vợ chồng không còn chung sống từ năm 2019 cho đến nay. Nay nhận thấy tình cảm không còn, bà yêu cầu ly hôn với ông P.
Về con chung: Trong thời gian sống chung chồng có 01 con chung tên Lê Phú Q, sinh ngày 11.10.1999 (hiện nay đã thành niên).
Về tài sản chung: Trong thời gian chung sống vợ chồng tạo được một số tài sản sau:
Diện tích đất chuyên trồng lúa nước 232,5 m² tờ bản đồ số 03, thửa số 746 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 11/7/2016 cho ông Lê Văn P, bà Nguyễn Thị Ánh M.
Diện tích đất thổ cư diện tích 329.70 m² do nhà nước múc kênh và nông đường lộ ra nên chỉ còn 240 m² tờ bản đồ số 39, thửa số 123 do ông Lê Văn P đứng tên.
01 xe moto biển số 67M6 – 6398 hiệu wave Rs trung quốc mua 2005 giá 8.000.000 đồng hiện nay tỷ lệ sử dụng còn lại 70%/ trị giá 5.000.000 đồng.
01 xe moto biển số 67L1 – 216.45 hiệu EXCITER mua 2012 giá 47.000.000 đồng hiện nay tỷ lệ sử dụng còn lại 90%/ trị giá 47.000.000 đồng.
Khi ly hôn bà yêu cầu chia đôi số tài sản trên, bà dồng ý nhận giá trị, đồng ý để ông P sử dụng toàn bộ các tài sản trên. Tại phiên tòa bà xin rút lại yêu cầu đối với yêu cầu chia các tài sản trên, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Bà Nguyễn Thị Ánh M xác định không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Theo đơn khởi kiện, tờ tự khai cung cấp trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bị đơn ông Lê Văn P trình bày: Ông thống nhất thời gian đăng ký kết hôn và thời gian sống chung, nguyên nhân mâu thuẫn cũng đúng như bà M trình bày, vợ chồng có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện C, tỉnh An Giang. Nay bà M xin ly hôn ông đồng ý.
Về con chung: Trong thời gian chung sống vợ chồng có 01 con chung Lê Phú Q, sinh ngày 11.10.1999 (hiện nay đã thành niên).
Về tài sản chung: Ông cũng thống nhất trong thời gian chung sống vợ chồng tạo lập được một số tài sản:
Diện tích đất chuyên trồng lúa nước 232,5 m² tờ bản đồ số 03, thửa số 746 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 11/7/2016 cho ông Lê Văn P, bà Nguyễn Thị Ánh M.
Diện tích đất thổ cư diện tích 329.70 m² do nhà nước múc kênh và nông đường lộ ra nên chỉ còn 240 m² tờ bản đồ số 39, thửa số 123 do ông Lê Văn P đứng tên.
01 xe moto biển số 67M6 – 6398 hiệu wave Rs trung quốc mua 2005 giá 8.000.000 đồng hiện nay tỷ lệ sử dụng còn lại 70%/ trị giá 5.000.000 đồng.
01 xe moto biển số 67L1 – 216.45 hiệu EXCITER mua 2012 giá 47.000.000 đồng hiện nay tỷ lệ sử dụng còn lại 90%/ trị giá 47.000.000 đồng.
Đối với số tài sản này bà M yêu cầu chia đôi thì ông đồng ý chia một phần, riêng đối với diện tích đất 240 m² có một căn nhà ông xây dựng trên phần đất thì ông không đồng ý chia. Tại phiên tòa bà M xin rút lại yêu cầu chia tài sản chung thì ông đồng ý, ông không có ý kiến gì.
Trong quá trình giải quyết vụ án ngày 31 tháng 3 năm 2023 ông có yêu cầu chia tài sản như sau:
Bà Nguyễn Thị Ánh M đang giử 05 cây vàng 24 Ka ra (loại vàng 9999), vợ chồng có gởi mẹ vợ là bà Huỳnh Ánh N2 01 cây vàng 24 ka ra (loại vàng 9999) ông yêu cầu bà N2 và bà M trả lại số vàng trên để vợ chồng chia tài sản chung. Tại phiên tòa ông xin rút lại yêu cầu đối với yêu cầu chia các tài sản trên, không yêu cầu Tòa án giải quyết
Về vợ chung: Ông Lê Văn P xác định không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Theo đơn khởi kiện yêu cầu độc lập, tờ tự khai cung cấp trong quá trình giải quyết vụ án người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Cẩm N1 trình bày: Bà với vợ chồng ông P, bà M là chị em cùng xóm, bà có mua diện tích đất thổ cư ngang 7m dài từ bờ kênh chạy ra phía sau hết hậu mua với giá 175.000.000 đồng (một trăm bảy mươi lăm triệu đồng), hai bên chỉ làm giấy tay chỉ có bà với ông P ký tên và người chứng kiến là bà Nguyễn Ngọc H2 là trưởng ấp M, xã M, huyện C xác nhận cho bà, khi mua bà M không biết. Nay vợ chồng xin ly hôn nếu như vợ chồng ông P đồng ý bán cho bà thì bà yêu cầu làm thủ tục sang tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lại cho bà. Nếu như vợ chồng ông P không đồng ý thì bà yêu cầu ông P trả lại cho bà số tiền 175.000.000 đồng. Ngày 29 tháng 7 năm 2024 bà có đơn xin rút lại yêu cầu độc lập, bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Tại tờ tự khai cung cấp trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Huỳnh Ánh N2 trình bày: Bà là mẹ ruột của bà Nguyễn Thị Ánh M và là mẹ vợ ông Lê Văn P, đối với yêu cầu của ông P yêu cầu bà có nghĩa vụ trả lại cho ông P 01 cây vàng 24 ka ra (loại vàng 9999) để ông P chia tài sản chung với bà M, vì ông P cho rằng vợ chồng ông có gởi bà thì hoàn toàn bà không có giữ số vàng nào của vợ chồng ông P, nên bà không đồng ý trả theo yêu cầu của ông P. Tại phiên tòa ông P xin rút lại yêu cầu này thì bà không có ý kiến gì.
Tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp chứng minh cho ý kiến, yêu cầu khởi kiện: Giấy chứng minh nhân dân, hộ khẩu gia đình, giấy chứng nhận kết hôn số do Ủy ban nhân dân xã M, huyện C, tỉnh An Giang cấp; Giấy khai sinh của Lê Phú Q, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (bản sao).
- Bà Nguyễn Thị Cẩm N1 có ý kiến xin vắng mặt. Người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông là bà Lê Thị T, ông Nguyễn Trọng H, ông Nguyễn Trọng H1, ông Nguyễn Trọng D, cháu Nguyễn Quốc A, cháu Nguyễn Thị Tuyết M2 đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến.
Tại phiên tòa,
- Nguyên đơn trình bày ý kiến, yêu cầu như đã cung cấp trong giai đoạn chuẩn bị xét xử. Ngoài các tài liệu, chứng cứ đã cung cấp cho Tòa án, bà M2 không còn tài liệu, chứng cứ nào khác để cung cấp thêm.
- Bị đơn ông Lê Văn P không có ý kiến.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Huỳnh Ánh N2 không có ý kiến.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Cẩm N1 có ý kiến xin vắng mặt, bà Lê Thị T, ông Nguyễn Trọng H, ông Nguyễn Trọng H1, ông Nguyễn Trọng D, cháu Nguyễn Quốc A, cháu Nguyễn Thị Tuyết M2 vắng mặt không có ý kiến.
- Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ánh M là Luật sư Bùi Quốc N trình bày ý kiến:
- Về hôn nhân: Sau thời gian tự tìm hiểu giữa bà M với ông P được cha mẹ hai bên tổ chức lễ cưới vào năm 1997, vợ chồng có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện C, tỉnh An Giang, vợ chồng sống chung hạnh phúc đến năm 2019 thì không còn chung sống với nhau nữa, nguyên nhân sống không tình cảm, bất đồng quan điểm, không hợp nhau, vợ chồng không còn chung sống từ năm 2019 cho đến nay. Tại phiên tòa bà M yêu cầu xin ly hôn với ông P, ông P cũng đồng ý, do đó đề nghị Hội đồng xét xử Công nhận thuận tình ly hôn giữa bà Nguyễn Thị Ánh M và ông Lê Văn P.
- Về con chung: Bà Nguyễn Thị Ánh M, ông Lê Văn P xác định trong thời gian chung sống, vợ chồng có 01 con chung Lê Phú Q, sinh ngày 11.10.1999 (hiện nay đã thành niên).
- Về tài sản chung: Tại phiên tòa bà M xin rút lại yêu cầu chia tài sản chung, do đó đề nghị Hội đồng xét xử Đình chỉ đối với yêu cầu này.
- Về nợ chung: Bà Nguyễn Thị Ánh M xác định không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:
Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, 71, 234 Bộ luật Tố tụng dân sự. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt là phù hợp với quy định tại Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Ý kiến giải quyết vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Ánh M và ông Lê Văn P, do mai mối và được cha mẹ hai bên tổ chức lễ cưới vào năm 1997, vợ chồng có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật tại Ủy ban nhân dân xã M. Vợ chồng sống chung hạnh phúc đến năm 2019 thì không còn chung sống với nhau nữa, nguyên nhân sống không tình cảm, bất đồng quan điểm. Nay nhận thấy tình cảm không còn, bà M yêu cầu ly hôn với ông P. Phía ông P đồng ý ly hôn theo yêu cầu của bà M nên căn cứ Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình, công nhận thuận tình ly hôn giữa bà M và ông P.
Về con chung: Có 01 con chung tên Lê Phú Q, sinh năm 1999 đã trưởng thành nên không đề cập giải quyết.
Về tài sản chung: Trong thời gian chung sống vợ chồng tạo được một số tài sản sau: Diện tích đất chuyên trồng lúa nước 232,5m² tờ bản đồ số 03, thửa số 746 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 11/7/2016 cho ông Lê Văn P, bà Nguyễn Thị Ánh M (hiện nay giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ông P đang giữ); diện tích đất thổ cư diện tích 329.70 m2 do nhà nước múc kênh và nông đường lộ ra nên chỉ còn 240 m2 tờ bản đồ số 39, thửa số 123 do ông Lê Văn P đứng tên; 01 xe moto biển số 67M6 – 6398 hiệu WaveRS trung quốc mua 2005; 01 xe moto biển số 67L1 – 216.45 hiệu EXCITER mua 2012. Bà M rút lại toàn bộ yêu cầu khởi kiện đối với tài sản chung nêu trên và ông P rút lại yêu cầu phản tố yêu cầu bà M chia tài sản chung là 05 cây vàng 24 Ka ra (loại vàng 9999) và yêu cầu bà Huỳnh Ánh N2, trả lại 01 cây vàng 24 ka ra (loại vàng 9999); ngoài ra bà N1 rút lại yêu cầu độc lập, yêu cầu tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 11/4/2022 vô hiệu, yêu cầu nhận lại số tiền 175.000.000 đồng.
Xét việc rút lại yêu cầu khởi kiện của bà M, yêu cầu phản tố của ông P và yêu cầu độc lập của bà N1 là tự nguyện nên cần đình chỉ theo Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự.
· Về nợ chung: Không có nên không đề cập giải quyết.
Từ những phân tích nêu trên, căn cứ các Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình, Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử quyết định:
- Công nhận thuận tình ly hôn giữa bà Nguyễn Thị Ánh M và ông Lê Văn P.
- Đình chỉ yêu cầu khởi kiện chia tài sản chung của bà Nguyễn Thị Ánh M; yêu cầu phản tố của ông Lê Văn P và yêu cầu độc lập của bà Nguyễn Thị Cẩm N1.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng:
Bà Nguyễn Thị Ánh M khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Lê Văn P cư trú ấp M, xã M, huyện C, tỉnh An Giang. Xét đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Bà Nguyễn Thị Tuyết N3 có đơn xin xét xử vắng mặt, bà Lê Thị T, ông Nguyễn Trọng H, ông Nguyễn Trọng H1, ông Nguyễn Trọng D, cháu Nguyễn Quốc A, cháu Nguyễn Thị Tuyết M2 đã được triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà N3, bà T, ông H, ông H1, ông D, cháu Quốc A, cháu Tuyết M2 theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Về nội dung:
[3.1] Về hôn nhân:
Bà Nguyễn Thị Ánh M và ông Lê Văn P tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nên quan hệ hôn nhân giữa bà M và anh P là hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.
Xét thấy, xuất phát từ mâu thuẫn trong thời gian chung sống, bà M với ông P thường xuyên cãi vã, bất đồng quan điểm, tính tình không hợp nhau, ông, bà không còn sống chung năm 2019 cho đến nay. Tại phiên tòa bà M yêu cầu xin ly hôn ông P cũng đồng ý. Do đó, Hội đồng xét xử nghĩ nên công nhận sự tự nguyện thuận tình ly hôn giữa bà M và ông P là phù hợp theo quy định tại Điều 55 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
[3.2] Về con chung: Bà Nguyễn Thị Ánh M, ông Lê Văn P1 xác định trong thời gian chung sống, vợ chồng có 01 con chung Lê Phú Q, sinh ngày 11.10.1999 (hiện nay đã thành niên).
[3.3] Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thị Ánh M tự nguyện xin rút lại yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng, do đó Hội đồng xét xử nghĩ nên cần Đình chỉ đối với yêu cầu này là phù theo quy định tại khoản 1 Điều 217 – Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[3.4] Về nợ chung: Bà Nguyễn Thị Ánh M, ông Lê Văn P xác định không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[3.5] Về yêu cầu phản tố: Ông Lê Văn P tự nguyện xin rút lại đối với yêu cầu này, do đó Hội đồng xét xử nghĩ nên cần đình chỉ đối với yêu cầu này là phù theo quy định tại khoản 1 Điều 217 – Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[3.6] Về yêu cầu độc lập: Bà Nguyễn Thị Cẩm N1 tự nguyện xin rút lại đối với yêu cầu này, do đó Hội đồng xét xử nghĩ nên cần đình chỉ đối với yêu cầu này là phù theo quy định tại khoản 1 Điều 217 – Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[3.7] Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bà Nguyễn Thị Ánh M phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Ông Lê Văn P không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.
[3.8] Về chi phí tố tụng: Bà Nguyễn Thị Ánh M tự nguyện chịu tòan bộ chi phí tố tụng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều:
Điều 33, 38, 55, 58, 59, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Điều 144, 147, 217, 218, 227, 228, 235, 244, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Ánh M.
- Về hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa bà Nguyễn Thị Ánh M với ông Lê Văn P.
- Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung Lê Phú Q, sinh ngày 11.10.1999 (hiện nay đã thành niên).
- Về tài sản chung: Đình chỉ yêu cầu chia tài sản chung của bà Nguyễn Thị Ánh M.
- Đình chỉ yêu cầu phản tố của ông Lê Văn P và yêu cầu độc lập của bà Nguyễn Thị Cẩm N1.
- Về nợ chung: Bà Nguyễn Thị Ánh M, ông Lê Văn P xác định không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Về chi phí tố tụng:
- Về án phí sơ thẩm:
- Đương sự có mặt tham gia phiên toà có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Giấy chứng nhận kết hôn số 10 ngày 27/9/1997 do Ủy ban nhân dân xã M, huyện C, tỉnh An Giang cấp cho bà Nguyễn Thị Ánh M với ông Lê Văn P không còn giá trị pháp lý.
Ghi nhận chị bà M, ông P xác định không có nợ chung, nhưng sau khi bản án ly hôn có hiệu lực pháp luật nếu có nguyên đơn xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của bà M và ông P trong thời kỳ hôn nhân thì ông, bà phải liên đới chịu trách nhiệm với tư cách đồng bị đơn trong vụ án dân sự khác.
Bà Nguyễn Thị Ánh M tự nguyện chịu chi phí tố tụng xem xét, thẩm định tại chổ, định giá, đo đạc là 1.000.000 đồng (một triệu đồng), chi phí bản vẽ hiện trạng khu đất các đương sự đang tranh chấp là 1.504.656 đồng (một triệu năm trăm lẽ bốn nghìn sáu trăm năm mươi sáu đồng) và chi phí thẩm định giá 5.300.000 đồng (năm triệu ba trăm nghìn) đồng. Tổng cộng các chi phí là 7.804.656 đồng (bảy triệu tám trăm lẽ bốn ngàn sáu trăm năm mươi sáu đồng). Chi phí này bà Nguyễn Thị Ánh M đã nộp xong.
Bà Nguyễn Thị Ánh M phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm 300.000 (ba trăm nghìn) đồng nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí 9.988.000 đồng (chín triệu chín trăm tám mươi tám nghìn) đồng đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0010407 do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang cấp ngày 21 tháng 3 năm 2022; Bà Nguyễn Thị Ánh M được nhận lại 9.688.000 đồng (chín triệu sáu trăm tám mươi tám nghìn) đồng.
Ông Lê Văn P được nhận lại số tiền tạm ứng án phí 3.750.000 (ba triệu bảy trăm năm mươi nghìn) đồng đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0013440 do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang cấp ngày 05 tháng 4 năm 2023.
Bà Nguyễn Thị Cẩm N1 được nhận lại số tiền tạm ứng án phí 4.375.000 (bốn triệu ba trăm bảy mươi lăm nghìn) đồng đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0012935 do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang cấp ngày 24 tháng 11 năm 2022.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Châu Vũ Sơn |
Bản án số 277/2024/HNGĐ-ST ngày 18/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hôn nhân và gia đình ly hôn, chia tài sản chung
- Số bản án: 277/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình ly hôn, chia tài sản chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Cho ly hôn
