Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 1 - ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số:277/2025/HS-ST

Ngày 31-10-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Huyền

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Huỳnh Thị Kim Kiên

2. Bà Nguyễn Thị Hạnh

- Thư ký phiên tòa: Bà La Nguyễn Minh Thi – Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 - Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thắng – Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 10 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 228/2025/TLST-HS ngày 01/10/2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 258/2025/QĐXXST-HS ngày 10/10/2025 đối với bị cáo:

NGUYỄN THÀNH L. Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh năm 1992 tại tỉnh Đồng Nai; Nơi cư trú: B, khu phố E, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (nay là phường T, tỉnh Đồng Nai);

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo.

Nghề nghiệp: Không; Chức vụ (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Không;

Trình độ học vấn: 08/12; con ông Nguyễn Văn N (đã chết) và bà Trần Thị G (đã chết); Gia đình có 04 anh chị em, bị cáo là con thứ 04, chưa có vợ, con.

Tiền án:

  • Ngày 09/04/2019 bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa xử phạt 04 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 23/10/2022. (chưa được xóa án tích).
  • Ngày 30/08/2023 bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 10/10/2024. (chưa được xóa án tích).

Tiền sự: Không;

Nhân thân:

  • Ngày 23/4/2007 bị Ủy ban nhân dân thành phố B ra Quyết định đưa vào trường G1 thời hạn 24 tháng, đã chấp hành xong.
  • Ngày 13/7/2011 bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa xử phạt 02 năm 03 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”, đã chấp hành xong.
  • Ngày 16/8/2012 bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố B, tỉnh Đồng Nai ra quyết định đưa vào cơ sở chữa bệnh thời hạn 24 tháng, đã chấp hành xong.
  • Ngày 08/7/2016 bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa ra Quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời gian 24 tháng, đã chấp hành xong.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 23/05/2025 hiện đang bị giam giữ tại Phân trại tạm giam khu vực B – Trại tạm giam số 1 Công an tỉnh Đ. (Bị cáo có mặt).

Bị hại: Anh Lê Văn Đ, sinh năm 1982; Địa chỉ: D, khu phố A, phường B, thành phố B (Nay là phường T) tỉnh Đồng Nai (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Thành L, sinh năm 1992, là người từng nhiều lần bị tòa án xét xử về các tội “Cướp giật tài sản” và “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích.

Khoảng 08 giờ 15 phút ngày 21/05/2025, L đi bộ một mình từ khu phố E, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (nay là phường T, tỉnh Đồng Nai), khi đi đến trước nhà số A, khu phố F, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (nay là phường T, tỉnh Đồng Nai), L nhìn thấy bên lề đường khu dân cư có một chiếc xe môtô nhãn hiệu Honda RSX, biển số 60F1-578.83, của anh Lê Văn Đ, trên xe cắm sẵn chìa khóa, không có ai trông coi. L lén lút đến gần ngồi lên yên xe rồi dùng 2 chân đẩy một đoạn khoảng 01 mét thì dừng lại mở khóa, nổ máy điều khiển xe đi về hướng Quảng trường tỉnh Đồng Nai tẩu thoát.

Đến khoảng 10 giờ ngày 21/5/2025, L điều khiển xe mô tô trộm được đi đến khu vực chân cầu H thuộc khu phố C, phường Q, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (nay là phường T, tỉnh Đồng Nai) bán cho một người tên N1 (không rõ nhân thân, lai lịch) với giá 2.500.000 đ (Hai triệu năm trăm ngàn đồng). Đến ngày 22/5/2025, L biết được thông tin Công an Phường đang truy tìm đối tượng trộm cắp xe môtô nhãn hiệu Honda RSX, biển số 60F1-578.83, nhận thấy hành vi trộm cắp của mình đã bị phát hiện nên đến khoảng 16 giờ cùng ngày L đến Công an phường T để đầu thú, Công an phường T lập hồ sơ chuyển Cơ Quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ xử lý theo thẩm quyền.

Về vật chứng vụ án:

  • 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda RSX, biển số 60F1-578.83 của anh Lê Văn Đ bị Nguyễn Thành L trộm cắp, sau khi trộm L đã bán cho một người tên N1 (không rõ nhân thân, lai lịch) nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ không thu hồi được.
  • 01 (một) áo sọc màu xám đen, 01 (một) quần dài màu xám L mặc trên người khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, là đồ dùng cá nhân của L, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ đã trả lại cho L.
  • 01 (một) USB lưu trữ đoạn video khi L thực hiện hành vi phạm tội. (được lưu tại hồ sơ vụ án).
  • Tại bản kết luận định giá tài sản số 84/KL-HĐĐGTS ngày 26/5/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự đã kết luận: 01 xe mô tô biển số 60F1-578.83 trị giá 10.500.000 đồng (mười triệu năm trăm nghìn đồng).
  • Về dân sự: Anh Lê Văn Đ yêu cầu L bồi thường cho anh số tiền 10.500.000đ (mười triệu năm trăm nghìn đồng). Hiện L chưa bồi thường.

Tại Bản cáo trạng số 218/CT-VKSKV1 ngày 25/9/2025, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 - Đồng Nai đã truy tố bị cáo Nguyễn Thành L về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 - Đồng Nai vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thành L từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù giam.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo, lời khai của những người tham gia tố tụng khác có trong hồ sơ vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thành L đã khai nhận hành vi phạm tội. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của người tham gia tố tụng khác và các chứng cứ, tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án. Từ đó, có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 08 giờ 15 phút ngày 21/05/2025 tại trước nhà số A, khu phố F, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (nay là phường T, tỉnh Đồng Nai), Nguyễn Thành L đã có hành vi lén lút trộm cắp 01 (một) xe môtô nhãn hiệu Honda RSX, biển số 60F1-578.83, trị giá 10.500.000 đồng (mười triệu năm trăm nghìn đồng) của anh Lê Văn Đ, sau đó L bị phát hiện khởi tố để điều tra xử lý theo quy định.

Hành vi của bị cáo Nguyễn Thành L đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Thành L là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an xã hội, gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Bị cáo có nhân thân xấu, trước đó đã nhiều lần phạm tội Trộm cắp tài sản, cướp giật tài sản chưa được xóa án tích nay lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội, thể hiện thái độ coi thường pháp luật của bị cáo. Do đó, cần xử phạt bị cáo một mức án nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra, nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự nguyện ra đầu thú. Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14 xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình.

[6] Về trách nhiệm dân sự:

- Buộc bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường cho anh Lê Văn Đ số tiền 10.500.000 đồng (Mười triệu năm trăm nghìn đồng).

[7] Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 525.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

[8] Đối với người tên N1 đã mua chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda RSX, biển số 60F1-578.83 do L trộm cắp, sau đó mang đi bán. Hiện chưa rõ nhân thân lai lịch, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ tiếp tục xác minh, làm rõ khi có căn cứ sẽ xử lý theo quy định,

[9] Nhận định của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 - Đồng Nai phù hợp với các chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

  1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

    Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14; khoản 2 Điều 136; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:

    Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thành L 03 (Ba) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 23/5/2025.

  2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14; Điều 584, Điều 586, Điều 589 Bộ luật Dân sự năm 2015.

    Buộc bị cáo bồi thường cho anh Lê Văn Đ số tiền 10.500.000 đồng (Mười triệu năm trăm nghìn đồng).

    Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án), hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn lại phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

  3. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thành L phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 525.000 đồng (năm trăm hai lăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yêt hợp lệ.

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND KV1 - Đồng Nai;
  • - Cơ quan CSĐT CA tỉnh Đồng Nai;
  • - Cơ quan THAHS CA tỉnh Đồng Nai;
  • - Phòng PV06 CA T. Đồng Nai;
  • - Phân trại tạm giam khu vực Biên Hòa;
  • - THADS tỉnh Đồng Nai;
  • - Bị cáo, Bị hại;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đỗ Thị Huyền

7

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

8

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Hội thẩm nhân dân Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
9
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 277/2025/HS-ST ngày 31/10/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - ĐỒNG NAI về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 277/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/10/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thành Long
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger