Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BÌNH CHÁNH

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 277/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 25/3/2025

V/v Tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Châu.

Các Hội thẩm nhân dân:Bà Trần Thị Nga.

Bà Phan Thị Dòn.

Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Kim Ngân - Thư ký Tòa án

nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh tham gia

phiên tòa: Ông Ngô Hoàng Phương Đại - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 3 năm 2025, tại Phòng xử án của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 95/2025/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 02 năm 2025 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 149/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 3 năm 2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1987;

CCCD số: [...];

Địa chỉ thường trú: A P, Phường F, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị đơn: Bà Lê Thị Ánh T1, sinh năm 1979;

CCCD số: [...];

Địa chỉ: A ấp B, xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn ông Nguyễn Văn T trình bày:

Ông và bà Lê Thị Ánh T1 chung sống với nhau vào năm 2020, do tự tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường F, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh vào ngày 17/8/2020. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng sau đó thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, mâu thuẫn hai bên gia đình về tính cách và cách cư xử trong cuộc sống. Từ tháng 10 năm 2022 đến nay, ông và bà T1 đã sống ly thân. Nay ông yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với bà T1 để ổn định cuộc sống, trả tự do cho nhau.

Về con chung: Ông và bà T1 có 01 (một) con chung là trẻ Nguyễn Bảo K (giới tính nam, sinh ngày 06/01/2021), hiện trẻ K đang được bà T1 chăm sóc, nuôi dưỡng tốt. Sau khi ly hôn, ông giao trẻ K cho bà T1 tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, phần cấp dưỡng nuôi con ông sẽ thương lượng với bà T1.

Về tài sản chung: Ông và bà T1 không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Ông và bà T1 không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại Bản tự khai đề ngày 19/02/2025, bị đơn bà Lê Thị Ánh T1 trình bày:

Bà và ông Nguyễn Văn T có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường F, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh vào năm 2020 và có một con chung là trẻ Nguyễn Bảo K, sinh năm 2021. Bà và ông T sống với nhau ở nhà của bà đến khi con được gần 02 tuổi thì bà phát hiện ông T ngoại tình, bà đã tha thứ rất nhiều lần nhưng ông T vẫn tiếp tục mối quan hệ. Bà và ông T đã sống ly thân từ năm 2023 đến nay. Nay bà không muốn chung sống với ông T nữa. Bà yêu cầu được nuôi con và không cần bất kỳ sự chu cấp nào từ ông T. Về tài sản chung, nợ chung: Bà và ông T không có.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh tham gia phiên toà có ý kiến như sau:

Trong quá trình điều tra, thu thập chứng cứ Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký đã thực hiện đầy đủ các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Đương sự đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn theo đơn khởi kiện của ông Nguyễn Văn T. Về con chung: Giao trẻ Nguyễn Bảo K (giới tính nam, sinh ngày 06/01/2021) cho bà Lê Thị Ánh T1 tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối với ông Nguyễn Văn T. Về tài sản chung, nợ chung: Ông Nguyễn Văn T và bà Lê Thị Ánh T1 xác định không có, không yêu cầu giải quyết nên không xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Ông Nguyễn Văn T và bà Lê Thị Ánh T1 chung sống với nhau có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường F, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh. Do cuộc sống chung không hạnh phúc nên ông T yêu cầu ly hôn với bà T1. Đây là tranh chấp về ly hôn, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bị đơn có nơi cư trú tại xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh. Do đó, theo quy định khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh có thẩm quyền giải quyết.

[2] Về sự vắng mặt của đương sự:

Ông Nguyễn Văn T và bà Lê Thị Ánh T1 có yêu cầu giải quyết vắng mặt, do đó Tòa án đưa vụ án ra xét xử vắng mặt ông T, bà T1 là phù hợp với khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

[3] Về yêu cầu của đương sự, Hội đồng xét xử xét thấy như sau:

[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn số 110 đăng ký tại Ủy ban nhân dân Phường F, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh ngày 17/8/2020 thể hiện hôn nhân giữa ông Nguyễn Văn T và bà Lê Thị Ánh T1 là hợp pháp.

Ông T và bà T1 đều xác định cả hai đã sống ly thân và không muốn hòa giải đoàn tụ. Xét thấy tình trạng hôn nhân giữa ông T và bà T1 là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, do đó yêu cầu ly hôn của ông T là có cơ sở, Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3.2] Về con chung: Căn cứ Giấy khai sinh số 23 do Ủy ban nhân dân Phường F, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 19/01/2021 có cơ sở xác định trẻ Nguyễn Bảo K (giới tính nam, sinh ngày 06/01/2021) là con của ông Nguyễn Văn T và bà Lê Thị Ánh T1.

Tại khoản 1, khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình quy định:

“1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên...

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

Tại khoản 3 Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình quy định: “Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở”.

Tại Công văn số 452/UBND ngày 20/02/2025 Ủy ban nhân dân xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh cho biết không rõ mâu thuẫn giữa ông T và bà T1. Ông T và bà T1 có 01 con chung là trẻ Nguyễn Bảo K (giới tính nam, sinh ngày 06/01/2021), hiện nay trẻ K đang sống cùng bà T1 tại địa chỉ A ấp B, xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.

Xét thấy, trẻ K còn nhỏ, đang trong giai đoạn hoàn thiện về mặt tâm sinh lý để phát triển về mọi mặt, cần sự chăm sóc, gần gũi, yêu thương, chia sẻ, dạy dỗ nhiều từ mẹ. Hiện nay, trẻ K đang được bà T1 chăm sóc, nuôi dưỡng tốt. Do đó, để đảm bảo quyền lợi mọi mặt của trẻ và tránh làm cuộc sống của trẻ bị xáo trộn nên giao trẻ K cho bà T1 tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp. Ông T có quyền thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở.

Phần cấp dưỡng nuôi con ông T và bà T1 không có yêu cầu Toà án giải quyết, khi nào có yêu cầu Tòa án sẽ giải quyết.

[3.3] Về tài sản chung: Ông T và bà T1 xác định quá trình chung sống không có tạo lập tài sản chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết, do đó Tòa án không đặt ra để giải quyết.

[3.4] Về nợ chung: Ông T và bà T1 xác định quá trình chung sống không có nợ chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết, do đó Tòa án không đặt ra để giải quyết.

[4] Xét, đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[5] Về án phí: Ông Nguyễn Văn T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án;

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 1 Điều 228; Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;

Căn cứ các Điều 8, 9, 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Điều 4, Điều 7 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án;

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ vợ chồng: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của ông Nguyễn Văn T đối với bà Lê Thị Ánh T1. Ông Nguyễn Văn T được ly hôn với bà Lê Thị Ánh T1.

    Giấy chứng nhận kết hôn số 110 đăng ký tại Ủy ban nhân dân Phường F, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh ngày 17/8/2020 không còn giá trị pháp lý.

  2. Về con chung: Giao trẻ Nguyễn Bảo K (sinh ngày 06/01/2021) cho bà Lê Thị Ánh T1 tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng.

    Phần cấp dưỡng nuôi con ông T và bà T1 đều không có yêu cầu Toà án giải quyết. Do đó, Toà án không đặt ra để giải quyết.

    Ông Nguyễn Văn T có quyền tới lui thăm nom chăm sóc con chung không ai có quyền ngăn cản. Vì lợi ích của trẻ khi cần thiết có thể xin thay đổi việc nuôi con hoặc góp phần phí tổn nuôi con sau này.

    Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

    Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

  3. Về tài sản chung: Ông Nguyễn Văn T và bà Lê Thị Ánh T1 xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, do đó Tòa án không đặt ra để giải quyết.
  4. Về nợ chung: Ông Nguyễn Văn T và bà Lê Thị Ánh T1 xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, do đó Tòa án không đặt ra để giải quyết.
  5. Về án phí: Ông Nguyễn Văn T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được cấn trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí số 0051988 ngày 10 tháng 02 năm 2025 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh. Ông T đã nộp đủ án phí.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

  6. Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Ngọc Châu

Nơi Nhận:

  • - TAND TP. HCM;
  • - VKSND H.BC;
  • - THADS H.BC;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu VP, Hồ sơ (...)
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 277/2025/HNGĐ-ST ngày 25/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 277/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger