TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 277/2024/HNGĐ-ST Ngày: 28 - 6 - 2024 V/v Tranh chấp ly hôn, nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: | Ông Hà Thanh Khiết |
| Các Hội thẩm nhân dân: | Ông Bùi Xuân Minh |
| Ông Phan Minh Hoàng |
- Thư ký phiên toà: Bà Đoàn Thúy Vân - Thư ký Toà án.
Ngày 25 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm vụ án thụ lý số: 250/2024/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 4 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 196/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Trần Thị Ngọc Á, sinh năm 1992 (vắng mặt)
Cư trú tại: Số F, đường P, xã T, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình.
Bị đơn: Ông Trần Văn K, sinh năm 1990 (vắng mặt)
Cư trú tại: Ấp B, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 26/3/2024 nguyên đơn Trần Thị Ngọc Á trình bày:
Về hôn nhân: Bà và ông Trần Văn K kết hôn vào ngày 20 tháng 5 năm 2020, có đăng ký kết hôn tại UBND xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau. Thời gian đầu chung sống vợ chồng rất hạnh phúc, nhưng được một thời gian thì phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình không phù hợp, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, vợ chồng thường xuyên cự cãi với nhau. Nhận thấy tình trạng hôn nhân đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu ly hôn với ông Trần Văn K.
Về con chung: Thời gian chung sống bà và ông Trần Văn K có 01 người con chung tên Trần Ngọc N, sinh ngày 20 tháng 9 năm 2020. Khi ly hôn bà yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu ông K phải cấp dưỡng nuôi con đối với Trần Ngọc N.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà Trần Thị Ngọc Á xác định vợ chồng không có tài sản chung và cũng không nợ ai, không yêu cầu tòa án giải quyết.
Đối với Trần Văn K đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt, do đó Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời không tiến hành hòa giải được vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời căn cứ vào Điều 220 Bộ luật tố tụng dân sự ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung và triệu tập Trần Văn K hợp lệ đến lần thứ hai để đến Tòa án để tham gia tố tụng tại phiên tòa nhưng Trần Văn K vẫn vắng mặt không lý do và cũng không có bất cứ văn bản nào có ý kiến về yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Ngọc Á.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được xem xét tại phiên toà, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Tranh chấp giữa bà Trần Thị Ngọc Á và ông Trần Văn K là tranh chấp về ly hôn, nuôi con; Bị đơn là ông Trần Văn K có nơi cư trú tại huyện T nên bà Á khởi kiện yêu cầu giải quyết vụ án tại Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Đối với ông Trần Văn K đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt, do đó Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời không tiến hành hòa giải được vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời căn cứ vào Điều 220 Bộ luật tố tụng dân sự ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung và triệu tập ông Trần Văn K hợp lệ đến lần thứ hai để đến Tòa án để tham gia tố tụng tại phiên tòa nhưng ông Trần Văn K vẫn vắng mặt không lý do và cũng không có bất cứ văn bản nào có ý kiến về yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Ngọc Á. Do đó Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt ông Trần Văn K theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.
Đối với việc đề nghị giải quyết vắng mặt của bà Trần Thị Ngọc Á, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định.
[3] Nhận định của Hội đồng xét xử về nội dung tranh chấp của vụ án:
Về hôn nhân: Bà Trần Thị Ngọc Á và ông Trần Văn K xác lập quan hệ vợ chồng vào năm 2020, có đăng ký kết hôn tại UBND xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau. Nên đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Quá trình chung sống bà Á và ông Khởi phát sinh mâu thuẫn dẫn đến bà Á yêu cầu xin ly hôn với ông K.
Hội đồng xét xử xét thấy bà Trần Thị Ngọc Á và ông Trần Văn K phát sinh nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, từ đó vợ chồng sống ly thân với nhau. Quá trình giải quyết vụ án ông K không có ý kiến gì đối với việc bà Á xin ly hôn với ông. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn của bà Á và ông Trần Văn K đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận cho bà Á được ly hôn với ông K.
Về con chung: Bà Á xác định bà và ông Trần Văn K có 01 người con chung tên Trần Ngọc N, sinh ngày 20 tháng 9 năm 2020. Khi ly hôn bà yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu ông K phải cấp dưỡng nuôi con đối với Trần Ngọc N. Hội đồng xét xử xét thấy cháu Trần Ngọc N còn nhỏ tuổi, đang sống với mẹ từ khi sinh ra cho đến nay. Do đó Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu được nuôi con của bà Á đối với cháu N là phù hợp với quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử Quyết định giao cháu Trần Ngọc N, sinh ngày 20 tháng 9 năm 2020 cho bà Trần Thị Ngọc Á trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi thành niên.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Bà Trần Thị Ngọc Á không yêu cầu ông Trần Văn K có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà Á xác định vợ chồng không có tài sản, không nợ ai không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Nếu sau này bà Á và ông Trần Văn K có phát sinh tranh chấp về tài sản chung và nợ chung thì bà Á và ông Trần Văn K đều có quyền khởi kiện thành vụ kiện dân sự khác theo quy định pháp luật.
[3] Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm bà Trần Thị Ngọc Á phải nộp 300.000 đồng theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giãm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
Các điều 28; 35; 39; 147, 227, 266, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;
Các điều 9, 14, 51, 53, 58, 81 và 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giãm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về hôn nhân: Chấp nhận cho bà Trần Thị Ngọc Á được ly hôn với ông Trần Văn K.
2. Về con chung: Giao Trần Ngọc N, sinh ngày 20 tháng 9 năm 2020 cho bà Trần Thị Ngọc Á trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi thành niên.
Ông Trần Văn K chưa phải cấp dưỡng nuôi con đối với con chung của ông và bà Trần Thị Ngọc Á tên Trần Ngọc N, sinh năm 2016. (Note: The OCR text contains a discrepancy regarding the child's birth year here, using 2016 instead of 2020. The text is transcribed exactly as provided.)
Ông Trần Văn K không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc con không ai được quyền cản trở.
3. Án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình: Buộc bà Trần Thị Ngọc Á phải chịu 300.000 đồng. Ngày 12 tháng 4 năm 2024 bà Trần Thị Ngọc Á đã nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004864 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau, được đối trừ. Bà Trần Thị Ngọc Á đã nộp đủ án phí.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Án xử sơ thẩm công khai bà Trần Thị Ngọc Á và ông Trần Văn K có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ theo pháp luật tố tụng dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hà Thanh Khiết |
Bản án số 277/2024/HNGĐ-ST ngày 28/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 277/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 1. Về hôn nhân: Chấp nhận cho bà Trần Thị Ngọc Ánh được ly hôn với ông Trần Văn Khởi. 2. Về con chung: Giao Trần Ngọc Nhi, sinh ngày 20 tháng 9 năm 2020 cho bà Trần Thị Ngọc Ánh trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi thành niên. Ông Trần Văn Khởi chưa phải cấp dưỡng nuôi con đối với con chung của ông và bà Trần Thị Ngọc Ánh tên Trần Ngọc Nhi, sinh năm 2016. Ông Trần Văn Khởi không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc con không ai được quyền cản trở.
