Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 227/2023/HSPT

Ngày 25-12 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Trường Du

Các Thẩm phán: Bà Lê Thị Tố Như.

Ông Mai Văn Tiến.

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tài -Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Thu Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 25/12/2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 306/2023/HSPT ngày 09/11/2023 đối với bị cáo Nguyễn Văn Â, do có kháng cáo của Người đại diện hợp pháp của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 68/2023/HSST ngày 27/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Yên Định, tỉnh Thanh hoá.

* Bị cáo: Nguyễn Văn Â, sinh ngày 28 tháng 4 năm 1980 tại xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Nơi cư trú: Thôn Đ, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 01/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1950 và bà: Nguyễn Thị H, sinh năm 1954; Gia đình bị cáo có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Vợ là Lê Thị H1, sinh năm 1981, có 04 con, con lớn nhất sinh năm 2006, con nhỏ nhất sinh năm 2020. Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo tại ngoại có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa.

- Người đại diện hợp pháp của bị cáo đồng thời là người kháng cáo: Chị Lê Thị H1, sinh năm 1981 (là vợ bị cáo) (Có mặt).

Địa chỉ: Thôn Đ, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.

- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Hoàng Thị T, là trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh T (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa sơ thẩm, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Trong khoảng thời gian từ ngày 07/7/2022 đến ngày 20/10/2022, Nguyễn Văn  đã thực hiện 02 vụ trộm cắp xe gắn máy và xe mô tô trên địa bàn xã Đ, huyện Y và xã T, huyện T.

Cụ thể như sau: Vụ thứ nhất: Vào khoảng 22 giờ ngày 07/7/2022, Nguyễn Văn  đi đến nhà bà Lưu Thị O, sinh năm 1972, ở thôn B, xã Đ, huyện Y để chơi. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày,  ra về. Lúc này,  quan sát thấy trong sân nhà bà O có 01 chiếc xe gắn máy nhãn hiệu Việt Thái, loại Wavex màu trắng đen, biển kiểm soát 36AC-031.21 (xe của chị Lê Thị H2, là con gái bà O để cho bà O quản lý, sử dụng). Trên đường về,  nảy sinh ý định trộm cắp xe nên đã quay lại, nhưng do cửa cổng nhà bà O chỉ buộc mà không khóa nên  mở cửa vào trong để trộm cắp xe máy dựng ở sân, rồi điều khiển xe đi về nhà và sử dụng làm phương tiện để đi lại (BL số 133-134, 160-163, 176-178).

Tại bản kết luận định giá tài sản số 63/KL-HĐĐGTS ngày 27/11/2022 của Hội đồng định giá tài sản huyện Y kết luận: Chiếc xe gắn máy nhãn hiệu Việt Thái Wavex, màu trắng, biển kiểm soát 36AC-031.21, đã qua sử dụng tại thời điểm bị trộm cắp có giá trị là 5.100.000₫ (BL số 324).

Vụ thứ hai: Ngày 19/10/2022, Nguyễn Văn A đến nhà chị Lý Thị T1, sinh năm 1999 ở thôn L, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa chơi. Tại đây, Â thấy chìa khóa chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển kiểm soát 60C2-644.30 của chị T1 đang để ở nóc tủ lạnh nên đã lén lút lấy chìa khóa trên. Đến khoảng 16 giờ ngày 20/10/2022, Â điều khiển xe gắn máy nhãn hiệu Việt Thái, màu trắng, biển kiểm soát 36AC-031.21 (đây là chiếc xe máy Ân trộm cắp của gia đình bà O vào ngày 07/7/2022). Lúc này, bố đẻ chị T1 là ông Lý Văn Â1, sinh năm 1973 bảo T1 đi ra Bưu điện xã T, huyện T để nhận tiền chính sách hằng tháng cho ông. Chị T1 tìm chìa khóa chiếc xe mô tô của mình nhưng không tìm thấy nên đã đi bộ đến nhà văn hóa thôn L, xã T, huyện T để tìm mẹ là bà Lê Thị C, sinh năm 1973 để hỏi chìa khóa xe, rồi lấy xe đạp đi đến Bưu điện xã T để nhận tiền. Lấy tiền xong, chị T1 quay lại nhà văn hóa thôn L thì Â1 đi theo, do chờ lâu nên Â1 quay lại nhà chị T1 để tiếp tục chờ. Đến nhà chị T1, thấy cửa cổng không khóa nên Â1 mở cửa đi vào sân. Lúc này, nhà chị T1 không có ai ở nhà nên Â1 nảy sinh ý định trộm cắp xe mô tô của chị T1. Ân dắt xe gắn máy biển kiểm soát 36AC-031.21 vào trong sân rồi dùng tấm vải màu xanh đang phủ trên xe mô tô biển kiểm soát 60C2-644.30 của chị T1 ra ngoài cổng, quấn gài lại dây kim loại ở cổng rồi dùng chìa khóa xe mô tô đã lấy trộm trước đó nổ máy điều khiển xe đi về nhà và để lại chiếc gắn máy 36AC-031.21 ở nhà chị T1. (BL 129-132, 142-145). Ngày 20/10/2022, chị Lý Thị T1 đến Công an xã T, huyện T để trình báo sự việc và giao nộp xe gắn máy biển kiểm soát 36AC-031.21 do Â1 để lại.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 15/2022/HĐ-ĐGTS ngày 30/10/2022 của Hội đồng định giá tài sản huyện Y kết luận: Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh đen bạc, biển kiểm soát 60C2-644.30, đã qua sử dụng tại thời điểm bị trộm cắp có giá trị là 12.000.000₫ (BL số 303).

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản đầy đủ, không ai có yêu cầu bồi thường gì thêm (BL 317, 330).

* Với hành vi trên Bản án hình sự sơ thẩm số 68/2023/HSST ngày 27/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Yên Định đã quyết định:

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 173, Điểm g Khoản 1 Điều 52, Điểm q, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự; Khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn  phạm tội “Trộm cắp tài sản".

Về hình phạt: Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn  09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo

Án sơ thẩm còn quyết định về án phí sơ thẩm và quyền kháng cáo của bị cáo.

* Sau khi xét xử sơ thẩm, người đại diện hợp pháp cho bị cáo làm đơn kháng cáo bản án với nội dung: Xem xét đến điều kiện hoàn cảnh của bị cáo bị hạn chế về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi, nên đề nghị giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo cải tạo tại địa phương. Tại phiên toà người kháng cáo rút phần xin giảm nhẹ hình phạt, chỉ đề nghị cho bị cáo được hưởng án treo để có điều kiện điều trị bệnh cho bị cáo

Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa: Bị cáo có đơn xin xét xử vắng mặt phiên tòa, hợp lệ nên đề nghị HĐXX tiếp tục phiên toà. Người đại diện hợp pháp cho bị cáo rút kháng cáo phần giảm nhẹ hình phạt, chỉ kháng cáo xin cho bị cáo được hưởng án treo là đảm bảo đúng quy định . Bị cáo Nguyễn Văn  hạn chế về khả năng nhận thức và hành vi, thuộc trường hợp được hưởng trợ cấp hàng tháng do di chứng nhiễm chất độc màu da cam ảnh hưởng từ bố bị cáo là ông Nguyễn Văn Đ1 là người tham gia kháng chiến chống Mỹ bị nhiễm. Tại giai đoạn phúc thẩm người đại diện hợp pháp của bị cáo kháng cáo và cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ mới là mẹ bị cáo là bà Nguyễn Thị H được Nhà nước tặng thưởng Huy chương chiến sỹ giải phóng, có xác nhận của UBND xã T, huyện T về điều kiện hoàn cảnh gia đình, hoàn cảnh bệnh tật của bị cáo, bản thân bị cáo luôn chấp hành tốt nghĩa vụ công dân nơi cư trú, đề nghị được xem xét cho bị cáo được cải tạo tại địa phương để có điều kiện chữa bệnh. Xét thấy, đây là các tình tiết mới quy định tại khoản 2, Điều 51 Bộ luật hình sự cần xem xét cho bị cáo. Đánh giá hành vi phạm tội của của bị cáo mặc dù phạm tội 2 lần, nhưng đều thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, nhân thân không có tiền án, tiền sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nêu trên, bản thân bệnh tật, có hoàn cảnh gia đình khó khăn. Vì vậy, đề nghị HĐXX chấp nhận kháng cáo của người đại diện hợp pháp cho bị cáo, áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 BLTTHS, chấp nhận kháng cáo sửa bản án sơ thẩm theo hướng giữ nguyên mức hình phạt của án sơ thẩm, nhưng cho bị cáo được hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách.

Tranh luận: Người đại diện hợp pháp cho bị cáo và Người bào chữa cho bị cáo nhất trí với đề nghị của Viện kiểm sát. Đề nghị HĐXX xem xét, chấp nhận kháng cáo cho bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về thủ tục kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Văn  là người hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi do vậy, đơn kháng cáo của người đại diện hợp pháp cho bị cáo làm và nộp cho Toà án ngày 02/10/2023 trong thời hạn luật định, tại phiên tòa bị cáo có đơn xin vắng mặt, người kháng cáo không rút đơn kháng cáo nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

Tại phiên tòa bị cáo vắng mặt không có lý do chính đáng theo quy định, HĐXX căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 351 Bộ luật tố tụng hình sự nên quyết định tiến hành xét xử vắng mặt bị cáo.

[2]. Xét nội dung kháng cáo: Theo đơn kháng cáo, người đại diện hợp pháp cho bị cáo thừa nhận bị cáo đã có hành vi “ Trộm cắp tài sản” như cấp sơ thẩm đã xét xử là đúng, tuy nhiên, bị cáo  hạn chế về nhận thức và hành vi, điều kiện hoàn cảnh gia đình khó khăn, đề nghị xem xét cho bị cáo được hưởng án treo, Hội đồng xét xử xét thấy:

Về hành vi phạm tội: Gia đình bà Lưu Thị O và chị Lý Thị T1 đều là chỗ mà bị cáo  quen biết, khi đến nhà chơi lợi dụng sơ hở trong quản lý tài sản của chủ sở hữu thì bị cáo mới nẩy sinh ý định trộm cắp với mục đích làm phương tiện đi lại, tổng giá trị tài sản mà Nguyễn Văn  trộm cắp là 17.100.000₫, cụ thể: ngày 07/7/2022, Nguyễn Văn  đã có hành vi trộm cắp 01 chiếc xe gắn máy nhãn hiệu Việt Thái Wavex, màu trắng, biển kiểm soát 36AC-031.21 của gia đình bà Lưu Thị O, ở thôn B, xã Đ, huyện Y trị giá 5.100.000đ. Ngày 20/10/2022, Nguyễn Văn  trộm cắp 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu xanh đen bạc, biển kiểm soát 60C2-644.30 của chị Lý Thị T1, ở Thôn L, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa trị giá 12.000.000đ, nhưng bị cáo lại để lại tại nhà chị Lý Thị T1 chiếc xe biển kiểm soát 36AC-031.21 mà bị cáo trộm cắp của gia đình bà Lưu Thị O. Như vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, đây là vụ án trộm cắp tài sản có tính chất ít nghiêm trọng, bị cáo thành khẩn khai báo, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo thực hiện 02 lần trộm cắp tài sản có giá trị trên 2.000.000 đồng nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “phạm tội hai lần trở lên” được quy định tại Điểm g Khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Tại thời điểm phạm tội, bị cáo có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi. Cấp sơ thẩm đã đánh giá và áp dụng Khoản 1 Điều 173, Điểm g khoản 1 Điều 52, Điểm q, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự tuyên bố bị cáo phạm tội Trộm cắp tài sản và xử phạt bị cáo 09 tháng tù là có căn cứ.

Tuy nhiên, qua nghiên cứu hồ sơ vụ án Hội đồng xét xử thấy rằng: Tại kết luận giám định pháp y tâm thần số 19/KLGĐ ngày 31/01/2023 và kết luận giám định pháp y tâm thần số 153/KLGĐ ngày 29/5/2023 của V kết luận: Trước, trong khi thực hiện hành vi phạm tội và tại thời điểm giám định Nguyễn Văn  có bệnh

chậm phát triển tâm thần nhẹ, phải uống thuốc điều trị theo đơn của bác sỹ, bị cáo thuộc trường hợp được hưởng trợ cấp hàng tháng do di chứng nhiễm chất độc màu da cam ảnh hưởng từ bố bị cáo là ông Nguyễn Văn Đ1 là người tham gia kháng chiến chống Mỹ bị nhiễm. Tại giai đoạn phúc thẩm người đại diện hợp pháp của bị cáo kháng cáo và cung cấp thêm tài liệu mới là mẹ bị cáo là bà Nguyễn Thị H được Nhà nước tặng thưởng Huy chương chiến sỹ giải phóng, có xác nhận của UBND xã T, huyện T về điều kiện hoàn cảnh gia đình, hoàn cảnh bệnh tật của bị cáo, bản thân bị cáo luôn chấp hành tốt nghĩa vụ công dân nơi cư trú, đề nghị được xem xét cho bị cáo được cải tạo tại địa phương để có điều kiện chữa bệnh. Xét thấy, đây là các tình tiết mới quy định tại khoản 2, Điều 51 Bộ luật hình sự cần xem xét cho bị cáo. Đánh giá hành vi phạm tội của của bị cáo mặc dù phạm tội 2 lần, nhưng đều thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, với hành vi trộm cắp chiếc xe của nhà chị Lý Thị T1 nhưng bị cáo lại để lại nhà chị T1 chiếc xe mà trước đó trộm cắp của nhà bà Lưu Thị O phản ánh sự hạn chế về khả năng nhận thức, khả năng điều khiển hành vi của bị cáo, về nhân thân không có tiền án, tiền sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nêu trên, bản thân bệnh tật, có hoàn cảnh gia đình khó khăn. Căn cứ Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 về án treo số 02/VBHN-TANDTC ngày 07/9/2022, thì bị cáo đủ điều kiện cho hưởng án treo, vì vậy HĐXX chấp nhận kháng cáo của người đại diện hợp pháp cho bị cáo, sửa bản án sơ thẩm theo hướng giữ nguyên mức hình phạt của án sơ thẩm, nhưng cho bị cáo được hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách.

[3]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị

[4]. Về án phí: Người đại diện hợp pháp cho bị cáo kháng cáo được chấp nhận nên không phải chịu án phí Hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

[1]. Căn cứ điểm b, Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 3357 Bộ Luật tố tụng hình sự.

Chấp nhận kháng cáo của người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Văn Â, sủa một phần của Bản án án hình sự sơ thẩm số 68/2023/HS-ST ngày 27/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Yên Định,tỉnh Thanh hoá, giữ nguyên mức hình phạt tù, nhưng cho bị cáo hưởng án treo.

[2]. Áp dụng: khoản 1 Điều 173; điểm q, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự. Điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị Quyết 326 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án..

[3]. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn  phạm tội “ Trộm cắp tài sản”

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn  09 ( chín) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18( Mười tám) tháng, kể từ ngày tuyên án phúc thẩm. ( 25/12/2023).

Giao bị cáo Nguyễn Văn  cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa quản lý, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo được hưởng án treo nếu thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, bị cáo được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.

[4]. Án phí hình sự phúc thẩm: Chị Lê Thị H1 là Người đại diện hợp pháp của bị cáo kháng cáo bản án và được chấp nhận nên không phải chịu án phí phúc thẩm.

[5]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án .

Nơi gửi:

  • - TAND, VKSND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND Tỉnh Thanh Hóa;
  • - CA tỉnh T;
  • - Sở Tư pháp Thanh Hóa;
  • - VKS, TA, THAHS,DS huyện Y ;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu H3.sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà

Phạm Trường D

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 227/2023/HSPT ngày 25/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 227/2023/HSPT
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 25/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ÂN trộm cắp tài sản là xe máy để bán.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger