Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 150/2025/DS-ST

Ngày: 14/02/2025

V/v: Tranh chấp về hợp

đồng chuyển nhượng quyền

sử dụng đất.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Minh

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Hương
  2. Ông Huỳnh Tiến Dũng

- Thư ký phiên tòa: Bà Lưu Thị Ngọc Hương – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa:

Bà Nguyễn Thị Ánh Nguyệt – Kiểm sát viên.

Ngày 11 và 14 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 1359/2023/TLST-DS ngày 05/10/2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 329/2025/QĐXXST-DS ngày 14 tháng 01 năm 2025, giữa các đương sự:

· Nguyên đơn: Bà Vũ Thị Hồng C, sinh năm 1984

Địa chỉ: Số A Đường A, Khu nhà ở H, Khu phố D, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị Vân A (Giấy ủy quyền số công chứng 005742, quyển số 09/2023 do Văn phòng C3, Thành phố Hồ Chí Minh lập ngày 14/9/2023)

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà Vũ Thị Hồng C: Bà Trần Thị Kiều M, Luật sư thuộc Văn phòng L1, Đoàn luật sư Thành phố H.

· Bị đơn:

  1. Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1966
  2. Bà Lâm Thị L, sinh năm 1963

Người đại diện theo ủy quyền của bà Lâm Thị L: Ông Nguyễn Văn T (Giấy ủy quyền số công chứng 001378, quyển số 02/2025 do Văn phòng C4, Thành phố Hồ Chí Minh lập ngày 11/02/2025)

Địa chỉ thường trú: Số A Đường số F, Khu phố F, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh

Địa chỉ cư trú: Số A Đường số F, Khu phố F, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện ngày 27/7/2023, bà Vũ Thị Hồng C trình bày:

Ngày 28/4/2020, bà Lâm Thị L ký văn bản thỏa thuận chuyển nhượng cho bà Vũ Thị Hồng C một phần đất có diện tích 40 m² (rộng 4 m x dài 10 m = 40 m²) tại thửa đất số 647, tờ bản đồ số 103, địa chỉ: Số B Đường số F, Khu phố F, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh thuộc quyền sử dụng của bà Lâm Thị L theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản gắn liền với đất số vào sổ cấp GCN: CS 08155 do Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H cấp ngày 19/02/2019. Giá trị của hợp đồng là 950,000,000 đồng. Bà C đã thanh toán được 900,000,000 đồng. Bà L cam kết xây dựng nhà trên phần đất mua cho bà C trong thời hạn 03 tháng, tính từ ngày 28/4/2020. Quá thời hạn 03 tháng nhưng do bà L không thực hiện được việc xây nhà theo đúng như cam kết nên bà L đã thỏa thuận với bà C về việc chuộc lại đất.

Ngày 18/12/2020, bà C và bà L ký hợp đồng đặt cọc mua bán đất. Theo đó, bà C chuyển nhượng lại cho bà L phần đất trên với giá 900,000,000 đồng. Thời hạn thanh toán: 03 tháng, tính từ ngày 18/12/2020 đến ngày 31/3/2021. Nếu bà L không thanh toán đúng hạn thì mảnh đất trên thuộc về bà C.

Đến nay, đã quá thời hạn cam kết, bà C đã liên tục liên lạc để yêu cầu bà L giao đất, giao nhà cho bà C nhưng bà L trốn tránh. Sau khi tìm hiểu thì bà C được biết bà L đã chuyển nhượng toàn bộ thửa đất trên cho chồng của mình là ông Nguyễn Văn T mà không hề báo cho bà C biết.

Nay nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:

  • Tuyên bố hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất được ký kết giữa bà Lâm Thị L và ông Nguyễn Văn T đối với thửa đất số 647, tờ bản đồ số 103, địa chỉ: Số B Đường số F, Khu phố F, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh là vô hiệu.
  • Công nhận Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được ký kết giữa bà Vũ Thị Hồng C và bà Lâm Thị L ngày 28/4/2020 là hợp pháp; công nhận diện tích đất 40 m² tọa lạc tại thửa đất số 647, tờ bản đồ số 103, địa chỉ: Số B Đường số F, Khu phố F, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh thuộc quyền sử dụng của bà Vũ Thị Hồng C.

* Tại Đơn thay đổi nội dung khởi kiện ngày 29/02/2024, bà Vũ Thị Hồng C trình bày:

Sau khi ký thỏa thuận chuộc lại đất ngày 18/12/2020, bà L đã thanh toán cho bà C được 500,000,000 đồng. Vì tin lời hứa hẹn của bà L nên sau đó bà C đã chuyển thêm cho bà L số tiền 120,000,000 đồng để xây nhà. Hiện tổng số tiền bà L còn giữ của bà C là 520,000,000 đồng.

Nhận thấy hợp đồng không thể thực hiện được, bà C cũng không muốn sống cạnh gia đình bà L, để tránh vụ việc kéo dài làm mất thời gian cho đôi bên, nguyên đơn thay đổi nội dung khởi kiện như sau:

Buộc bà L phải thanh toán cho bà C số tiền 520,000,000 đồng.

* Tại Đơn thay đổi nội dung khởi kiện ngày 15/10/2024, bà Vũ Thị Hồng C yêu cầu bà Lâm Thị L và ông Nguyễn Văn T phải có nghĩa vụ liên đới trong việc thanh toán cho bà C số tiền 520,000,000 đồng.

* Tại bản tự khai và trong quá trình tham gia tố tụng tại Toà án, bị đơn bà Lâm Thị L trình bày:

Bị đơn thống nhất với toàn bộ nội dung trình bày của nguyên đơn về quá trình ký kết và thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Việc bà nộp cho tòa án các giấy chuyển khoản cho bà C kể từ sau ngày 20/01/2022 cho đến ngày 23/02/2023 với tổng số tiền 89,000,000 đồng, mục đích để Tòa án biết là trong thời gian qua bà L vẫn trả lãi cho bà C đối với số tiền chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán, không yêu cầu Tòa án cấn trừ vào số tiền nợ 520,000,000 đồng.

Nay hợp đồng không thể thực hiện được nên bà L đồng ý trả cho bà C số tiền mua đất còn nợ là 520,000,000 đồng và đồng ý bồi thường cho bà C số tiền 50,000,000 đồng. Tổng số tiền bà L có nghĩa vụ thanh toán là 570,000,000 đồng.

Thời hạn thanh toán: 06 tháng kể từ ngày hai bên ký biên bản hòa giải thành.

* Tại bản tự khai ngày 08/01/2024, bị đơn ông Nguyễn Văn T trình bày:

Ông Thể xác nhận ngày 28/4/2020, bà L (vợ của ông T) có chuyển nhượng cho bà C một phần đất với diện tích và địa chỉ thửa đất như nguyên đơn trình bày. Do hợp đồng mua bán không thể thực hiện được nên ngày 18/12/2020, hai bên đã ký văn bản thỏa thuận chấm dứt hợp đồng chuyển nhượng trên, bà C bán lại đất cho bà L và bà L phải trả lại cho bà C số tiền 950,000,000 đồng. Đến ngày 20/01/2022, bà L đã thanh toán được cho bà C số tiền gốc là 550,000,000 đồng, còn nợ 400,000,000 đồng. Hai bên thỏa thuận tiền nợ 400,000,000 đồng trở thành khoản vay, bà L có nghĩa vụ đóng lãi cho bà C với số tiền hơn 20,000,000 đồng/tháng.

Ngày 14/3/2023, bà C cho bà L vay 120,000,000 đồng. Việc hai bên lập giấy thỏa thuận ngày 14/3/2022 với nội dung bà C chuyển tiền cho bà L để xây nhà chỉ là hình thức để tạo niềm tin cho bên cho vay. Thực chất đất vẫn thuộc quyền sử dụng của ông T, bà L. Tổng số tiền lãi mà ông T, bà L đóng cho bà C khoảng 400,000,000 đồng. Nay nguyên đơn khởi kiện tranh chấp về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì bị đơn không đồng ý vì hai bên đã thỏa thuận chấm dứt hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất kể từ ngày 20/01/2022. Số tiền bà L còn nợ bà C đã chuyển thành khoản vay và bị đơn có đóng lãi đầy đủ cho nguyên đơn. Khoản vay có xác định thời hạn trả là ngày 06/7/2023, do bị đơn chưa có tiền thanh toán nên kéo dài tranh chấp đến nay. Vì vậy, bị đơn đồng ý thanh toán cho nguyên đơn số tiền gốc là 260,000,000 đồng. Thời gian thanh toán 60 ngày, kể từ ngày hai bên ký thỏa thuận.

Trường hợp Tòa án tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được ký kết giữa bà L và bà C vô hiệu thì ông T không yêu cầu Tòa án giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu.

Ông Thể xác N đã được tòa án giải thích và ra thông báo yêu cầu nộp đơn phản tố để được tòa án xem xét, giải quyết đối với số tiền còn nợ bà C. Tuy nhiên, sau đó nguyên đơn đã thay đổi nội dung khởi kiện, chỉ yêu cầu bị đơn thanh toán số tiền còn nợ 520,000,000 đồng nên Tòa án đã không triệu tập những người đồng sở hữu thửa đất tham gia tố tụng nữa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã được công khai tại phiên họp về việc kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, được xem xét tại phiên toà cùng lời khai của các đương sự, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

  • Quan hệ tranh chấp trong vụ án là tranh chấp về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Thửa đất tranh chấp tọa lạc tại địa chỉ 2 Đường số F, Khu phố F, phường H, T, Thành phố Hồ Chí Minh nên tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân thành phố Thủ Đức theo quy định tại Khoản 3 Điều 26; Điểm a Khoản 1 Điều 35; Điểm c Khoản 1 Điều 39 Bộ Luật Tố tụng dân sự năm 2015.
  • Tại đơn khởi kiện ngày 27/7/2023, nguyên đơn yêu cầu Tòa án công nhận hiệu lực của Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được ký kết giữa bà Vũ Thị Hồng C và bà Lâm Thị L ngày 28/4/2020; công nhận một phần diện tích đất 40 m² tọa lạc tại thửa đất số 647, tờ bản đồ số 103, địa chỉ: Số B Đường số F, Khu phố F, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh thuộc quyền sử dụng của bà Vũ Thị Hồng C. Xét thấy việc giải quyết yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn có liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của những người đồng sở hữu thửa đất, gồm: Ông Nguyễn Duy H, bà Trần Thị Kim N1, bà Nguyễn Thị Thùy T1, bà Nguyễn Thị Diễm P, ông Đặng Hữu N2, ông Đỗ Nhật C1, ông Tô Phú C2, ông Trương Nhất D, ông Trần Thanh T2 nên Tòa án đã đưa những người trên tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Tuy nhiên, sau đó nguyên đơn đã thay đổi nội dung khởi kiện, chỉ yêu cầu bị đơn thanh toán số tiền còn nợ 520,000,000 đồng nên Tòa án đã không triệu tập những người đồng sở hữu thửa đất tham gia tố tụng nữa.

[2] Về nội dung:

  • Xét hiệu lực của Văn bản thỏa thuận chuyển nhượng quyền sử dụng đất được ký kết giữa bà Vũ Thị Hồng C và bà Lâm Thị L ngày 28/4/2020:

Tại phiên tòa, bị đơn cho rằng việc bà L và bà C ký thỏa thuận chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 28/4/2020 nhằm tạo niềm tin để bà C cho bà L vay tiền. Thực tế không có việc mua bán đất. Lời khai của bị đơn không được nguyên đơn thừa nhận. Bị đơn cũng không đưa ra được tài liệu, chứng cứ chứng minh ngoài việc ký kết thỏa thuận chuyển nhượng quyền sử dụng đất, giữa hai bên còn tồn tại hợp đồng vay tài sản nên không có cơ sở để Hội đồng xét xử cho rằng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được ký kết giữ hai bên là giả tạo, nhằm che giấu hợp đồng vay.

Theo nội dung của văn bản thỏa thuận chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 28/4/2020, bà L chuyển nhượng cho bà C một phần đất có diện tích 40 m² (rộng 4 m x dài 10 m = 40 m²) tại thửa đất số 647, tờ bản đồ số 103, địa chỉ: Số B Đường số F, Khu phố F, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh thuộc quyền sử dụng của bà Lâm Thị L theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản gắn liền với đất số vào sổ cấp GCN: CS 08155 do Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H cấp ngày 19/02/2019. Giá trị của hợp đồng là 950,000,000 đồng. Nội dung mà các bên thỏa thuận trong văn bản có giá trị như một hợp đồng về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Hợp đồng không được công chứng, chứng thực theo quy định tại điểm a Khoản 2 Điều 167 Luật đất đai năm 2013.

Mặt khác, căn cứ Văn bản số 4690/CNTPTĐ ngày 26/3/2024 và Văn bản số 10159/CNTPTĐ ngày 21/6/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh về việc cung cấp thông tin nhà đất tọa lạc tại số B đường số F, khu phố F, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh có cơ sở xác định tại thời điểm năm 2020, nhà đất nêu trên không thuộc quyền quản lý, sở hữu của bà Lâm Thị L. Như vậy, tại thời điểm ký hợp đồng chuyển nhượng đất cho bà C ngày 28/4/2024, bà L không còn là chủ sở hữu đối với thửa đất trên, do đó không có quyền định đoạt tài sản theo quy định tại Điều 194 Bộ luật Dân sự 2015 và Khoản 1 Điều 167 Luật Đất đai năm 2013.

Từ những căn cứ trên, Hội đồng xét xử thống nhất với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát khi cho rằng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được ký kết giữa bà L và bà C ngày 28/4/2020 là vô hiệu về hình thức theo quy định tại Điều 129 và vi phạm điều cấm theo quy định tại Điều 123 Bộ luật Dân sự năm 2015.

  • Xét yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc bị đơn phải thanh toán số tiền 520,000,000 đồng:

Điều 131 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm giao dịch được xác lập; các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận. Bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường.

Do hợp đồng mua bán đất vô hiệu ngay tại thời điểm ký kết nên thỏa thuận của các bên phát sinh sau đó, cụ thể: Thỏa thuận về việc bà L chuộc lại đất, thỏa thuận về việc bà L phải có nghĩa vụ thanh toán tiền lãi lãi chậm trả do chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán, thỏa thuận về việc bà C giao thêm cho bà L số tiền 120,000,000 đồng để bà L xây nhà... không phát sinh hiệu lực.

Các bên đều thống nhất xác định số tiền bà C đã giao cho bà L để mua đất là 900,000,000 đồng nhưng không thống nhất trong việc xác định số tiền bà L đã hoàn trả cho bà C. Bị đơn cho rằng đã thanh toán cho nguyên đơn 550,000,000 đồng tiền nợ gốc và khoảng 400,000,000 đồng tiền lãi. Bà C chỉ thừa nhận bà L mới chỉ thanh toán được 500,000,000 đồng tiền mua đất, còn nợ 400,000,000 đồng, cộng với số tiền 120,000,000 đồng bà C giao cho bà L ngày 14/3/2023 để bà L xây nhà cho bà C thì số tiền bà L còn nợ bà C là 520,000,000 đồng.

Tài liệu, chứng cứ để Hội đồng xét xử xem xét việc giao nhận tiền giữa các bên là tờ cam kết ngày 20/01/2022 và các chứng từ do bà L chuyển tiền cho bà C từ sau ngày 20/01/2020.

Theo nội dung cam kết ngày 20/01/2022, các bên xác nhận tính đến ngày 27/01/2022, bà L còn nợ bà C số tiền 430,000,000 đồng, trong đó có 415,000,000 đồng tiền gốc và 15,000,000 đồng tiền lãi. Bà L phải thanh toán 30,000,000 đồng và còn nợ 400,000,000 đồng. Do thỏa thuận về lãi chậm trả không phát sinh hiệu lực nên số tiền lãi 15,000,000 đồng không được Hội đồng xét xử xem xét. Tính đến ngày 20/01/2022, bị đơn mới chỉ thanh toán cho nguyên đơn số tiền 485,000,000 đồng, còn nợ 415,000,000 đồng (900,000,000 đồng - 485,000,000 đồng = 415,000,000 đồng).

Từ sau ngày 20/01/2022, tổng số tiền bị đơn thanh toán cho nguyên đơn là 89,000,000 đồng (ngày 21/01/2022: thanh toán 25,000,000 đồng; ngày 09/5/2022: thanh toán 15,000,000 đồng; ngày 15/6/2022: thanh toán 5,000,000 đồng; ngày 17/8/2022: thanh toán 2,000,000 đồng; ngày 27/9/2022: thanh toán 2,000,000 đồng; ngày 04/10/2022: thanh toán 9,000,000 đồng; ngày 11/10/2022: thanh toán 9,000,000 đồng; ngày 25/10/2022: thanh toán 10,000,000 đồng; ngày 28/10/2022: thanh toán 5,000,000 đồng; ngày 23/02/2023: thanh toán 7,000,000 đồng. Tổng cộng: 89,000,000 đồng). Ngày 14/3/2023, bà C giao thêm cho bà L số tiền 120,000,000 đồng để xây nhà. Như vậy, tổng số tiền mà bị đơn còn nợ nguyên đơn là 446,000,000 đồng (415,000,000 đồng – 89,000,000 đồng + 120,000,000 đồng = 446,000,000 đồng).

Bà L và ông T có quan hệ vợ chồng. Mặc dù hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất chỉ có một mình bà L ký kết nhưng đây là khoản nợ được hình thành trong thời kỳ hôn nhân, ông T không phủ nhận nghĩa vụ thanh toán của mình nên Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn ông T, bà L phải thanh toán cho nguyên đơn số tiền 446,000,000 đồng. Số tiền nguyên đơn yêu cầu không được Hội đồng xét xử chấp nhận là 74,000,000 đồng.

[3] Về án phí dân sự sơ thẩm và chi phí tố tụng khác:

  • Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận một phần nên nguyên đơn phải chịu án phí trên phần yêu cầu không được chấp nhận, bị đơn phải chịu án phí trên số tiền phải thanh toán cho nguyên đơn.
  • Do nguyên đơn thay đổi nội dung khởi kiện, xét thấy việc xem xét, thẩm định tại chỗ đối với tài sản tranh chấp là không cần thiết nên Tòa án đã hoàn trả lại cho bà Vũ Thị Hồng C số tiền tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ 3,000,000 đồng theo biên bản hoàn tiền tạm ứng chi phí tố tụng ngày 14/02/2025.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ Khoản 3 Điều 26; Điểm a Khoản 1 Điều 35; Điểm c Khoản 1 Điều 39; Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ Điều 123, 129, 131, Điều 194 Bộ luật Dân sự năm 2015;

- Căn cứ Điều 167 Luật đất đai năm 2013

- Căn cứ Luật phí và lệ phí năm 2015;

- Căn cứ Luật Thi hành án dân sự năm 2008, được sửa đổi, bổ sung năm 2014;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

  1. Tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được ký kết giữa bà Vũ Thị Hồng C và bà Lâm Thị L ngày 28/4/2020 là vô hiệu.
  2. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Vũ Thị Hồng C
    • Buộc bà Lâm Thị L, ông Nguyễn Văn T có nghĩa vụ thanh toán cho bà Vũ Thị Hồng C số tiền 446,000,000 đồng; số tiền yêu cầu của bà Vũ Thị Hồng C đối với bà Lâm Thị L, ông Nguyễn Văn T không được chấp nhận là 74,000,000 đồng.

    Trường hợp bà Vũ Thị Hồng C có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bà Lâm Thị L, ông Nguyễn Văn T không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ thanh toán thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và Khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

  3. Về án phí dân sự sơ thẩm và chi phí tố tụng khác:
    • Bà Vũ Thị Hồng C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 3,700,000 đồng, được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà C đã nộp 600,000 đồng theo Biên lai tạm ứng án phí số 0004823 ngày 21/9/2023 và 12,400,000 đồng theo Biên lai tạm ứng án phí số 0044408 ngày 18/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh, bà C được hoàn lại số tiền 9,300,000 đồng.
    • Án phí dân sự sơ thẩm mà bà Lâm Thị L và ông Nguyễn Văn T phải nộp là 21,840,000 đồng. Bà L, ông T mỗi người phải nộp 10,920,000 đồng. Do bà L thuộc đối tượng người cao tuổi, đã có đơn xin miễn nộp tiền án phí nên được miễn nộp án phí dân sự. Ông Nguyễn Văn T phải nộp 10,920,000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.
    • Bà Vũ Thị Hồng C đã được hoàn trả 3,000,000 đồng tiền tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ theo biên bản hoàn tiền tạm ứng chi phí tố tụng ngày 15/02/2025.
  4. Về quyền kháng cáo:

    Bà Vũ Thị Hồng C, bà Lâm Thị L, ông Nguyễn Văn T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

  5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hánh án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014).

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân TP.HCM;
  • - Viện kiểm sát nhân dân TP.HCM;
  • - Viện KSND thành phố Thủ Đức, Tp.HCM;
  • - Chi cục THADS thành phố Thủ Đức, Tp.HCM;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ, văn phòng.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Lê Thị Minh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 150/2025/DS-ST ngày 14/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 150/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/02/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger