Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ DĨ AN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 276/2024/DS-ST

Ngày 30-8-2024

V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Tuyên.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phạm Tú Nhi;

Bà Hoàng Lệ Chi.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Việt Hà - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Vương - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 525/2024/TLST-DS ngày 05 tháng 7 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 357/2024/QĐXXST-DS ngày 24 tháng 7 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 320/2024/QĐST-DS ngày 12 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Đinh Thị Tuyết P, sinh năm 1972. Thường trú: 1458/2, đường N, khu phố P, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.

- Bị đơn: Ông Lưu Văn H, sinh năm 1974. Thường trú: số 508/98 khu phố T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Địa chỉ liên hệ: số 1437/14b, khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương; vắng mặt không rõ lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn khởi kiện đề ngày 24 tháng 5 năm 2024, lời khai trong quá trình tổ tụng, nguyên đơn bà Đinh Thị Tuyết P trình bày:

Qua quan hệ quen biết, bà Đinh Thị Tuyết P có cho ông Lưu Văn H mượn số tiền 50.000.000 đồng. Việc vay mượn tiền được hai bên lập Giấy mượn tiền ký ngày 21/3/2023, có bà P và ông H cùng ký tên, lãi suất vay theo thỏa thuận là 3.5%/tháng.

Bà Đinh Thị Tuyết P đã giao đủ số tiền 50.000.000 đồng bằng tiền mặt, trực tiếp cho ông H vào ngày 21/3/2023 và ông H đã nhận đủ tiền từ bà P. Theo Giấy mượn tiền, hai bên thỏa thuận về thời hạn trả tiền vay là 12 tháng. Tuy nhiên, đến nay, thời hạn vay đã hết mà ông H vẫn không trả tiền cho bà P đúng như thỏa thuận, cố tình tránh né nghĩa vụ trả nợ cho bà P. Từ ngày hết hạn vay (ngày 21/3/2024) đến nay, ông H vẫn không trả lại tiền cho bà P (bao gồm cả tiền gốc và tiền lãi) theo yêu cầu.

Nay, bà Đinh Thị Tuyết P khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:

  1. Buộc ông Lưu Văn H có trách nhiệm trả lại cho bà Đinh Thị Tuyết P số tiền gốc đã vay là: 50.000.000 đồng.
  2. Buộc ông Lưu Văn H có trách nhiệm trả tiền lãi phát sinh từ khoản tiền gốc nêu trên với mức lãi suất là 10%/năm (tương đương 0,83%/tháng), tạm tính từ ngày 21/3/2023 đến ngày 24/8/2024 (17 tháng), số tiền là: 50.000.000 đồng x 17 tháng x 0,83% = 7.055.000 đồng.

Tổng số tiền gốc và lãi mà ông Lưu Văn H phải trả lại cho bà Đinh Thị Tuyết P tạm tính là: 57.055.000 đồng.

- Quá trình tiến hành tố tụng, Tòa án đã triệu tập bị đơn ông Lưu Văn H hợp lệ nhưng bị đơn vắng mặt không rõ lý do, không có ý kiến trình bày đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng pháp luật tố tụng, đã thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo quy định; không kiến nghị khắc phục, bổ sung các thủ tục tố tụng. Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ các tài liệu có tại hồ sơ vụ án đã được Hội đồng xét xử làm rõ tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Nguyên đơn bà Đinh Thị Tuyết P khởi kiện tranh chấp hợp đồng vay tài sản đối với bị đơn ông Lưu Văn H có nơi cư trú tại: số A, khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương nên căn cứ khoản 3 Điều 26; Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền thụ lý, giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương; quan hệ pháp luật là “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.

[2] Bị đơn ông Lưu Văn H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với bị đơn ông Lưu Văn H.

[3] Bị đơn ông Lưu Văn H vắng mặt tất cả các lần Tòa án triệu tập là tự từ bỏ quyền, nghĩa vụ chứng minh của mình theo quy định tại Điều 91 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn giao nộp và tài liệu, chứng cứ do Tòa án thu thập để giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

[4] Về quan hệ vay tài sản: Xét thấy, Giấy mượn tiền ngày 21/3/2023 được ký kết giữa bà Đinh Thị Tuyết P với ông Lưu Văn H. Nội dung của Giấy mượn tiền thể hiện ông H vay của bà P số tiền 50.000.000 đồng, thời hạn trả tiền vay là 12 tháng, lãi suất là 3.5%/tháng. Thực hiện Hợp đồng, nguyên đơn bà P đã giao đủ số tiền 50.000.000 đồng cho bị đơn ông H trực tiếp vào ngày 21/3/2023. Quá trình tố tụng, bị đơn ông Lưu Văn H không có ý kiến hay cung cấp tài liệu, chứng cứ để phản bác phần trình bày cũng như chứng cứ và yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Như vậy, căn cứ vào chứng cứ của nguyên đơn bà P cung cấp, có cơ sở xác định ông H vay của bà P số tiền 50.000.000 đồng. Tuy nhiên, đến nay bị đơn ông Lưu Văn H đã vi phạm nghĩa vụ trả tiền với bà P, bao gồm cả tiền gốc và tiền lãi theo cam kết. Vì vậy, nguyên đơn bà Đinh Thị Tuyết P khởi kiện yêu cầu bị đơn ông Lưu Văn H phải trả lại số tiền 50.000.000 đồng theo Giấy mượn tiền ngày 21/3/2023 là có căn cứ để chấp nhận.

[5] Về tiền lãi: Theo Giấy mượn tiền ngày 21/3/2023, bà P và ông H thỏa thuận lãi suất vay là 3.5%/tháng. Tại đơn khởi kiện và lời trình bày trong quá trình tố tụng, bà P yêu cầu buộc ông H có trách nhiệm trả tiền lãi phát sinh từ khoản tiền gốc với mức lãi suất là 10%/năm (tương đương 0.83%/tháng). Nguyên đơn bà Đinh Thị Tuyết P khởi kiện yêu cầu bị đơn ông Lưu Văn H phải thanh toán số tiền lãi từ ngày 21/3/2023 đến ngày 24/8/2024 (17 tháng), số tiền là: 50.000.000 đồng x 17 tháng x 0,83% = 7.055.000 đồng. Xét thấy, nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải chịu lãi suất 10%/năm là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 nên được chấp nhận.

[6] Từ những phân tích và nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

[7] Quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[8] Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Lưu Văn H phải chịu án phí có giá ngạch do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147 và các Điều 227, 228, 266, 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;

- Căn cứ các Điều: 280, 357, 463, 466, 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

- Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án,

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đinh Thị Tuyết P đối với bị đơn ông Lưu Văn H về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.

Buộc ông Lưu Văn H có nghĩa vụ trả lại cho bà Đinh Thị Tuyết P 57.055.000 đồng trong đó: tiền gốc là 50.000.000 đồng và tiền lãi là 7.055.000 đồng theo Giấy mượn tiền ngày 21/3/2023.

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

  1. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Buộc ông Lưu Văn H phải chịu 2.852.750 đồng.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

  1. Về quyền kháng cáo:

Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương (01);
  • - VKSND thành phố Dĩ An (01);
  • - Chi cục THADS thành phố Dĩ An (01);
  • - Các đương sự (02);
  • - Lưu: Văn phòng, hồ sơ vụ án (02).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Văn Tuyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 276/2024/DS-ST ngày 30/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 276/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản giữa nguyên đơn Đinh Thị Tuyết P với bị đơn Lưu Văn H
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger