Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 276/2024/DS-PT

Ngày 30-5-2024

V/v tranh chấp quyền sử dụng đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG

– Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Thanh Tuyền

Các Thẩm phán: Ông Lê Sỹ Trứ;

Bà Ngô Thị Bích Diệp.

– Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hùng Cường – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Bé – Kiểm sát viên.

Trong các ngày 23 và 30 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bình Dương xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 99/2023/TLPT-DS ngày 25 tháng 3 năm 2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 125/2023/DS-ST ngày 26 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 155/2024/QĐ-PT ngày 15 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 226/2024/QĐ-PT ngày 02 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị N (Nguyễn Thị N1), sinh năm 1943; địa chỉ: tổ D, khu phố D, phường U, thành phố T, tỉnh Bình Dương.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Hoàng Sỹ B, sinh năm 1986, địa chỉ: 1, đường L, tổ I, khu H, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương; có mặt.

- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1950; địa chỉ: tổ D, khu phố D, phường U, thành phố T, tỉnh Bình Dương.

Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Ông Vũ Đình M, sinh năm 1981; địa chỉ: số A, khu phố D, phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; địa chỉ liên hệ: khu dân cư T, khu phố C, phường U, thành phố T, tỉnh Bình Dương (Văn bản ủy quyền ngày 17/12/2020); có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ủy ban nhân dân thành phố T; địa chỉ: tổ A, khu phố B, phường U, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
  2. Ông Nguyễn Văn R, sinh năm 1960; địa chỉ: khu phố I, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
  3. Ông Trương Văn B1, sinh năm 1967; địa chỉ: tổ F, khu phố E, phường U, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
  4. Bà Trương Thị G, sinh năm 1970; địa chỉ: ấp H, xã H, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
  5. Ông Nguyễn Hoàng S, sinh năm 1980; địa chỉ: tổ D, khu phố D, phường U, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
  6. Bà Trương Thị Thanh H, sinh năm 1983; địa chỉ: tổ D, khu phố D, phường U, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
  7. Ông Lê Kim B2, sinh năm 1942; địa chỉ: tổ D, khu phố D, phường U, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
  8. Bà Lê Thị Kim H1, sinh năm 1963; địa chỉ: tổ D, khu phố D, phường U, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
  9. Ông Lê Kim S1, sinh năm 1974; địa chỉ: tổ D, khu phố D, phường U, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
  10. Bà Lê Thị Kim G1, sinh năm 1976; địa chỉ: tổ D, khu phố D, phường U, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
  11. Bà Lê Thị Kim P, sinh năm 1978; địa chỉ: tổ D, khu phố D, phường U, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
  12. Bà Nguyễn Thị Thu H2, sinh năm 1976; địa chỉ: tổ D, khu phố D, phường U, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
  13. Anh Nguyễn Minh H3, sinh năm 1987; địa chỉ: tổ D, khu phố D, phường U, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
  14. Anh Nguyễn Thành T1, sinh năm 1989; địa chỉ: tổ D, khu phố D, phường U, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
  15. Anh Lê Kim T2, sinh năm 1997; địa chỉ: tổ D, khu phố D, phường U, thành phố T, tỉnh Bình Dương.

- Người làm chứng:

  1. Bà Nguyễn Thị X, sinh năm 1965; địa chỉ: tổ D, khu phố D, phường U, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
  2. Ông Nguyễn Tấn L, sinh năm 1963; địa chỉ: tổ A, khu phố C, phường U, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
  3. Ông Trương Văn N2, sinh năm 1961; địa chỉ: tổ D, khu phố D, phường U, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
  4. Ông Nguyễn Văn L1, sinh năm 1959; địa chỉ: tổ C, khu phố D, phường U, thành phố T, tỉnh Bình Dương.

- Người kháng cáo: Bị đơn bà Nguyễn Thị T.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Nguyên đơn bà Nguyễn Thị N trình bày:

Bà Nguyễn Thị N là chủ sử dụng diện tích đất 1.290m² tại tổ D, phường U, thị xã T, tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 279/GCN-8B do Ủy ban nhân dân huyện (nay là thị xã) Tân Uyên cấp ngày 31/10/1990. Nguồn gốc đất trong đó có thửa số 183 là của ông bà, cha mẹ bà N khai phá từ thời kỳ Pháp thuộc, sử dụng trồng lúa và hoa màu, không phải đất rừng hoặc đất hoang hóa. Trước năm 1975, đất nằm trong vùng chiến khu D không có ai ở và cất nhà trên đất, dân chỉ tới làm ruộng rồi về. Năm 1975, bà N không phải khai phá mà tiếp tục quản lý đất và trồng hoa màu. Sau khi đất nước giải phóng, có nhiều hộ gia đình không có đất để ở nên Ủy ban nhân dân xã (nay là phường) Uyên Hưng vận động, thuyết phục gia đình bà N trích một phần đất để cho bà Trương Thị C có đất để ở. Thực hiện chủ trương của Nhà nước, gia đình bà N cho bà C diện tích đất khoảng 110m² là một phần đất thuộc thửa 183 hiện nay để xây dựng nhà tình thương. Phần đất còn lại bà N và các con sử dụng trồng rau, cây ngắn ngày. Ngay đầu đất có 01 cây me tự mọc khoảng từ năm 1977 đến 1980 (bà N không nhớ rõ thời gian) vì cây me nằm ở đầu khu đất và giáp đường xe bò nên gia đình không chặt bỏ mà để làm bóng mát nghỉ ăn trưa khi đi làm ruộng, cây tồn tại tới nay. Khi có nhiều người dân đến làm nhà sinh sống gần khu đất, bà N cho con cháu xây dựng nhà trên đất để ở.

Năm 1999, Nhà nước thực hiện việc cấp lại sổ đại trà, bà N đi đăng ký để đổi lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và được Ủy ban nhân dân huyện T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ 06043 QSDĐ/TU ngày 26/01/1999 đối với toàn bộ khu đất 1.290m² bao gồm cả diện tích đất khoảng 110m² đã cho bà C. Năm 2007, bà N chuyển nhượng cho ông Nguyễn Đức N3 diện tích đất khoảng 340m², chuyển nhượng cho bà Nguyễn Thị N4 diện tích đất khoảng 180m² đồng thời tách diện tích đất đã cho bà C ra khỏi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Diện tích đất còn lại của bà N khoảng 651m² được tách thành 02 thửa đất là thửa 183 có diện tích khoảng 146,6m² và thửa 184 có diện tích 505m². Bà N tuổi đã cao, sợ con cháu làm thủ tục sang tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sau đó bán hoặc đem cầm cố nên bà N tự nhờ người đưa đi làm thủ tục đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, được Ủy ban nhân dân huyện (nay là thị xã) Tân Uyên cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ H02430 ngày 25/5/2007, sau đó mang về cất giữ không cho con cháu biết vì sợ con cháu bán hết đất không còn nơi ở. Gia đình bà N đã dự tính xây dựng nhà trên phần đất còn lại của thửa đất số 183, nhưng khi đi làm thủ tục, các cơ quan có thẩm quyền giải thích phần lớn đất thuộc hành lang lộ giới nên không được xây dựng nhà kiên cố chỉ có thể xây dựng công trình như nhà tạm, nếu sau này Nhà nước có thu hồi, đền bù cũng dễ di dời. Do phần đất này tiếp giáp đường, phần lớn thuộc hành lang lộ giới nên gia đình bà N không xây dựng công trình trên đất mà để đất trống. Bà N trồng rau, trồng hàng bông khi còn khỏe, khi sức khỏe yếu đi lại khó khăn không trồng tỉa được thì gia đình sử dụng làm nơi cất giữ những vật dụng cũ, hư hỏng không còn giá trị sử dụng như chậu bông, bàn ghế cũ, cây củi tạp. Khoảng 10 năm trước, con trai bà H1 và là cháu ngoại bà T làm tài xế chạy xe tải thuê đã dọn dẹp sạch chậu cây, đồ tạp vụn dùng làm nơi để xe vào buổi tối. Khoảng 04 năm trước, gia đình bà H1 mua xe tải nhỏ và sử dụng đất làm nơi để xe, trong thời gian này gia đình bà T có làm một chái bếp bằng vật liệu cũ khoảng 02m² để nấu ăn, vì diện tích bếp nhỏ không ảnh hưởng đến việc sử dụng đất nên gia đình bà N không phản đối, theo thời gian chái bếp hư hỏng bà T cũng đã tháo dỡ.

Khoảng đầu tháng 6 năm 2020, con trai bà T là chủ sử dụng thửa đất 304, liền ranh với đất bà N đã dựng cột sắt xây dựng công trình làm quán sửa xe máy lấn qua đất của bà N khoảng 100m². Bà N đã nói chuyện yêu cầu bà T tháo dỡ nhưng bà T không tháo, bà N trình báo để Ủy ban nhân dân phường U hòa giải nhưng bà T vẫn không tháo dỡ trụ sắt đã dựng trên đất chỉ ngưng không xây dựng mở rộng thêm công trình. Khi xảy ra tranh chấp đất, bà N đưa giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để các con cháu làm thủ tục nhận ủy quyền mới phát hiện thửa đất số 184 bà N đã được Ủy ban nhân dân huyện (nay là thị xã) Tân Uyên cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ H02430 ngày 25/5/2007 nhưng thửa đất số 183 không được cấp lại vào Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ H02430 ngày 25/5/2007 của bà N. Gia đình bà N thắc mắc hỏi Ủy ban nhân dân phường U thì được trả lời không biết tại sao nhưng đất vẫn thuộc quyền sử dụng của người dân, khi Nhà nước làm đường hoặc thu hồi đất dân vẫn được đền bù.

Thửa đất số 183 là một phần trong tổng diện tích đất 1.290m² bà N được cấp theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 279/GCN-8B do Ủy ban nhân dân huyện T cấp ngày 31/10/1990, được Ủy ban nhân dân huyện T cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ 06043QSDĐ/TU ngày 26/01/1999. Bà N cho đất bà C, không cho đất gia đình bà T, sau khi bà C chết diện tích đất 110m² bà N cho bà C được con gái của bà C là bà Nguyễn Thị T tiếp tục sử dụng. Năm 2008, bà T đo đạc hợp thức hóa thông qua trường hợp nhận thừa kế và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nay là thửa đất số 304, tờ bản đồ số 05. Do vậy, nguồn gốc thửa đất số 304 được tách ra từ một phần của thửa đất số 183.

Nguyên đơn thống nhất kết quả đo đạc được thể hiện tại mảnh trích lục địa chính có đo đạc chỉnh lý số 100-2021, tờ bản đồ số 05, hệ tọa độ VN-2000 do Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thị xã T ký ban hành ngày 12/3/2021, không yêu cầu đo đạc lại, đo đạc bổ sung và kết quả định giá ngày 23/3/2021, không yêu cầu định giá lại.

Việc gia đình bà T xây dựng quán sửa xe trên thửa đất số 183 đã ảnh hưởng đến quyền sử dụng đất của bà N. Tại phiên tòa nguyên đơn yêu cầu Tòa án nhân dân thị xã Tân Uyên giải quyết:

- Công nhận diện tích đất theo đo đạc thực tế 97,2m² là một phần của thửa đất số 183, tờ bản đồ số 05, tại khu phố D, phường U, thị xã T, tỉnh Bình Dương thuộc quyền quản lý, sử dụng hợp pháp của bà Nguyễn Thị N (Nguyễn Thị N1), vị trí tứ cận đất như sau: hướng Bắc giáp phần còn lại của thửa đất số 183 và đường L; hướng Nam giáp thửa đất số 304; hướng Đông giáp thửa đất số 182; hướng Tây giáp phần còn lại của thửa đất số 183.

- Nguyên đơn đồng ý với việc bà T có xây dựng 02 hầm nước thải, không đồng ý với khối lượng đất mà bà T xác định đã san lấp, bà N khẳng định không có việc bà T đổ phần đất 50m² đất như bà T trình bày. Đối với giá trị hiện tại của 02 hầm chứa nước thải là 10.000.000 đồng và giá trị khối lượng khoảng 50m² đất mà bà T tự xác định là 15.000.000 đồng thì phía nguyên đơn đồng ý với giá trị nêu trên nhưng nguyên đơn phải cung cấp được các chứng cứ, chứng từ, biên nhận chứng minh cho việc đầu tư làm tăng giá trị tài sản trên đất.

- Việc gia đình bà T xây dựng quán sửa xe trên thửa đất số 183 đã ảnh hưởng đến quyền sử dụng đất của bà N. Nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết:

- Công nhận diện tích đất theo đo đạc thực tế 97,2m² là một phần của thửa đất số 183, tờ bản đồ số 05, tại khu phố D, phường U, thành phố T, tỉnh Bình Dương thuộc quyền quản lý, sử dụng hợp pháp của bà Nguyễn Thị N, vị trí tứ cận đất như sau: hướng Bắc giáp phần còn lại của thửa đất số 183 và đường L; hướng Nam giáp thửa đất số 304; hướng Đông giáp thửa đất số 182; hướng Tây giáp phần còn lại của thửa đất số 183.

- Buộc bà Nguyên Thị T3 cùng ông Nguyễn Hoàng S, bà Trương Thị Thanh H (con trai và con dâu bà T3) phải tháo dỡ các công trình xây dựng gồm: nhà tạm làm quán sửa xe, diện tích 12,9m²; mái che 35m²; di dời bồn nước bằng inox có chân sắt loại 200 lít và 03 trụ bê tông lõi sắt để trả bà N diện tích đất bị lấn chiếm 97,2m² thuộc thửa đất số 183, tờ bản đồ số 5.

- Đối với yêu cầu phản tố của bà T3, bà N không đồng ý vì bà T3 chỉ dựa vào lời trình bày để tranh chấp đất mà không chứng minh được nguồn gốc, quá trình sử dụng đất. Bà T3 cho rằng nguồn gốc đất do bà Trương Thị C khai phá là vô lý, vì năm 1975 hiện trạng đất của toàn bộ khu đất xung quanh trong đó có đất của bà N đã là đất ruộng, không có dân làm nhà sinh sống trên đất. Nếu bà Trương Thị C khai phá đất và có đất sử dụng thì vào năm 1977 gia đình bà N đã không phải cho bà C một phần đất để dựng nhà tình thương theo vận động của chính quyền địa phương, vì thời điểm đó chỉ có gia đình chính sách không có đất xây nhà mới được chính quyền địa phương vận động người có đất cho đất để xây nhà theo chính sách xây dựng nhà tình thương và nếu thửa số 183 do gia đình bà T3 khai phá thì khi đo đạc làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào năm 2008 gia đình bà T3 đã đo đạc đo hết thửa 183 bao gồm phần đất tranh chấp mà không phải ghi là hợp thức hóa một phần đất của thửa đất số 183 đất như thông tin tại hồ sơ cấp đất của gia đình bà T3.

2. Bị đơn bà Nguyễn Thị T trình bày:

Phần đất 97,2m² thuộc thửa số 183 bà Nguyễn Thị N tranh chấp với bà Nguyễn Thị T, có nguồn gốc do mẹ của bà T là bà Trương Thị C khai phá từ sau giải phóng (khoảng năm 1976). Bà T là người cùng với bà Trương Thị C quản lý, sử dụng phần đất này một cách công khai, minh bạch và liên tục, không có tranh chấp tính đến thời điểm bà N gửi đơn. Liền kề với phần đất đang tranh chấp, khoảng năm 1976 bà N có cho bà C mẹ bà T một phần đất khoảng 110m² làm nhà ở, hiện nay là thửa đất số 304 bà T đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Lý do bà N cho bà C đất để làm nhà tình nghĩa là do phần đất bà C khai phá (đất đang tranh chấp) nằm sát đường giao thông, thuộc hành lang an toàn đường bộ, cơ quan Nhà nước không cho xây dựng nhà nên bà N mới cho bà C phần đất phía trong để xây nhà. Phần đất tranh chấp bà C khai phá đã được bà C và bà T quản lý, sử dụng ổn định hơn 40 năm. Năm 1988, gia đình bà T đi đăng ký kê khai thửa đất số 183, tờ bản đồ số 05, tại phường U, thị xã T, tỉnh Bình Dương đã được cấp một phần, chỉ còn thiếu khoảng hơn 30m² so với thực tế sử dụng. Tuy nhiên, trên thực tế gia đình bà T vẫn sử dụng đất, xây dựng công trình và trồng cây trên đất. Năm 2007, gia đình bà T vẫn tiếp tục đăng ký kê khai phần còn lại của thửa đất số 183 nhưng cũng chỉ được cấp phần đất bà C đã xây nhà tình nghĩa, phần đất tranh chấp nằm trong hành lang an toàn đường bộ nên Nhà nước không cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, việc đăng ký thể hiện rõ trong hồ sơ cấp đất của bà T. Do đất sát đường đi được phép xây dựng nên bà C phải xây dựng nhà trên thửa đất số 304, phần đất còn lại gia đình bà T vẫn quản lý sử dụng.

Năm 1988, Sở Xây dựng tỉnh S cấp Giấy công nhận quyền sở hữu nhà cửa đối với căn nhà số G diện tích 110m² xây dựng trên đất, loại nhà trệt, mái tranh, vách rào đan, nền đất, đất thổ cư 176m² cho bà Trương Thị C tại tổ G, khu phố D, phường U, thị xã T, tỉnh Bình Dương. Tuy nhiên, việc cấp giấy chứng nhận này thiếu sót về diện tích nhưng do yếu tố lịch sử, việc cấp giấy không qua đo vẽ và do thời gian đó khá lạc hậu, sự hiểu biết của người dân còn hạn chế nên gia đình bà T chưa yêu cầu đính chính lại diện tích đất dù thực tế gia đình bà T vẫn là người chiếm hữu, quản lý và sử dụng liên tục và công khai cả phần đất tranh chấp.

Bà Trương Thị C là vợ liệt sĩ và gia đình có hoàn cảnh khó khăn nên năm 2002, Ủy ban nhân dân huyện T ra Quyết định số 852/2002/QĐ-CT ngày 06/8/2002 giao nhà tình nghĩa cho bà Trương Thị C, diện tích nhà 82,5m² xây dựng trên phần đất khoảng 110m² bà N cho bà C vào năm 1976.

Ngày 15/02/2006, bà C chết, bà Nguyễn Thị T con gái của bà C tiếp tục quản lý sử dụng toàn bộ phần đất khoảng 110m² thuộc thửa 304 và phần đất đang tranh chấp. Như vậy, tổng diện tích đất bà C và hiện nay là bà T đã quản lý sử là 207,2m² (97,2m² thuộc thửa 183 và 110m² thuộc thửa 304 bao gồm cả phần đất nhà và phần đất bà N1 đang tranh chấp). Ngày 04/01/2008, Ủy ban nhân dân thị xã T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AL 475142, số vào sổ H03190 đối với diện tích 110m², thuộc thửa số 304, tờ bản đồ số 5, tại phường U, thị xã T, tỉnh Bình Dương cho người sử dụng bà Nguyễn Thị T. Tuy nhiên, một phần do sai sót từ việc cấp giấy, một phần do kém hiểu biết nên bà T không biết Ủy ban nhân dân thị xã T cấp sai diện tích đất so với đất thực tế bà T đang quản lý, khai thác, sử dụng, cụ thể là cấp thiếu phần diện tích đất khuôn viên căn nhà và thiếu cả phần đất đang tranh chấp. Do bà T đã ở ổn định trên đất, nghĩ mình đương nhiên được tiếp tục sử dụng nên bà T cũng chưa kịp đi đăng ký bổ sung phần đất còn thiếu thì đã phát sinh tranh chấp.

Bị đơn khẳng định phần đất khoảng 110m² bà N cho bà C vào khoảng năm 1976 và phần đất bà N đang tranh chấp theo đo đạc thực tế 97,2m² do bà Trương Thị C và bà T là người duy nhất trực tiếp quản lý, khai thác, sử dụng một cách công khai, minh bạch, ngay tình, liên tục từ khoảng năm 1976 đến nay mà không có bất kỳ sự tranh chấp nào. Trên phần đất tranh chấp hiện nay còn có cây me được gia đình bà T trồng từ năm 1976 và tiệm sửa chữa xe máy xây dựng nhiều năm qua mà không ai có ý kiến. Vì đây là phần đất của bà C (mẹ bà T), được bà C quản lý, khai thác, sử dụng một thời gian dài và không có bất kỳ tranh chấp nào. Đến khi bà C mất thì bà T được thừa kế lại và quản lý, khai thác, sử dụng cho đến nay. Cụ thể, vào khoảng năm 1988, Sở Xây dựng tỉnh S (nay là Sở Xây dựng tỉnh B) cấp Giấy công nhận quyền sở hữu nhà cửa đối với 176m² đất ở và cả căn nhà 110m² nêu trên, loại nhà trệt, mái tranh, vách rào đan, nền đất, đất thổ cư 176m², cho bà Trượng Thị C1 là chủ sở hữu ngôi nhà số G, tọa lạc tại tổ G, ấp D, xã U, huyện T, tỉnh Sông Bé (nay là tổ G, khu phố D, phường U, thành phố T, tỉnh Bình Dương). Từ khi bà C1 chết thì bà Nguyễn Thị T con gái của bà C1 là người trực tiếp quản lý, khai thác, sử dụng phần đất nêu trên. Bên cạnh đó, trong hồ sơ kê khai phần đất đang tranh chấp trong quá trình giải quyết vụ án chia thừa kế giữa bà M1 và bà N thì bà N không đề cập đến diện tích đất này, chứng tỏ bà N thừa nhận đất tranh chấp với bà T hiện nay không phải của bà N.

Trên đất tranh chấp, bà T còn làm 02 hầm chứa nước thải, diện tích mỗi hầm nước là 02 mét vuông, được xây dựng lần lượt vào năm 2002 và năm 2020. Hiện tại, bà T, ông S, bà H đang sử dụng cho nhu cầu sinh hoạt của gia đình, giá trị của 02 hầm chứa nước thải là 10.000.000 đồng. Ngoài ra, bà T còn thuê người đổ đất tại thửa số 183, tờ bản đồ số 05 với tổng khối lượng khoảng 50m² đất, có giá trị là 15.000.000 đồng. Việc xây hầm, mua đất và thuê người lao động cũng không có lưu hóa đơn chứng từ.

Bà N tranh chấp diện tích 97,2m² đất thuộc thửa số 183, tờ bản đồ số 05, tại tổ D, khu phố D, phường U, thị xã T, tỉnh Bình Dương với bà T là không có cơ sở. Bà N cho rằng phần đất tranh chấp thuộc quyền sử dụng của bà N đã ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà T. Vì vậy, bị đơn phản tố yêu cầu Tòa án công nhận phần diện tích đất theo kết quả đo đạc thực tế 94,5m² là một phần của thửa số 183, tờ bản đồ số 05, tại phường U, thị xã T, tỉnh Bình Dương thuộc quyền sử dụng của bà Nguyễn Thị T. Tứ cận đất như sau: hướng Đông giáp thửa 182; hướng Tây giáp phần còn lại của thửa 183; hướng Nam giáp thửa 304 và phần còn lại của thửa 183; hướng Bắc giáp phần còn lại của thửa 183 và đường L.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Hoàng S, bà Trương Thị Thanh H (con trai và con dâu của bà Nguyễn Thị T) trình bày:

Thống nhất với lời trình bày của bà Nguyễn Thị T, không đồng ý yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

4. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn R, ông Trương Văn B1, bà Trương Thị G (con của bà Trương Thị C) trình bày:

Thống nhất với lời trình bày của bà Nguyễn Thị T về nguồn gốc, quá trình sử dụng đất tranh chấp, không đồng ý yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

5. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Kim B2 (chồng của bà N) trình bày:

Đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị N.

6. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Minh H3, anh Nguyễn Thành T1, anh Lê Kim T2 (cháu của bà N) trình bày:

Đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị N.

7. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân thành phố T trình bày:

Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 06034/QSDĐ/TU ngày 26/01/1999 được cấp cho hộ bà Nguyễn Thị N dựa trên cơ sở cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 279/GCN-SB. Căn cứ là đơn xin cấp đổi ngày 10/5/2007. Theo quy hoạch sử dụng đất đến năm 2023, thửa đất số 183, tờ bản đồ số 5, tại phường U là đất ở và một phần đất giao thông. Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Điều 18, Điều 20 Nghị định 43/2014/NĐ-CP của Chính phủ.

8. Người làm chứng bà Nguyễn Thị X trình bày:

Bà Nguyễn Thị X là dân địa phương, ở gần nhà bà T. Bà X biết thửa đất số 183 sát đường là đất của gia đình bà N. Khoảng tháng 6/2020, bà X thấy gia đình bà T đem vật liệu xây dựng quán sửa xe, trước thời gian đó đất trống, không có tiệm sửa xe.

9. Người làm chứng ông Nguyễn Tấn L trình bày:

Khoảng năm 2001 đến năm 2003, ông Nguyễn Tấn L làm Ủy viên của Ủy ban nhân dân thị trấn U phụ trách khối văn hóa, xã hội. Biết gia đình bà Trương Thị C thuộc diện chính sách, hoàn cảnh khó khăn đang ở nhờ trên đất của gia đình bà N nên ông L vận động gia đình bà N cho bà C phần đất đang ở nhờ đã có căn nhà tạm để xây nhà tình nghĩa. Bà N đồng ý cho bà C phần đất hiện nay là thửa đất số 304, sau đó bà N có cho bà C thêm đất không thì ông L không rõ. Ông L đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt.

10. Người làm chứng ông Trương Văn N2 trình bày:

Ông Trương Văn N2 ở gần nhà bà N nên biết trước đây gia đình bà N có đất rộng, có cho bà Trương Thị C ở nhờ trên đất. Ủy ban nhân dân thị trấn U thấy gia đình bà Trương Thị C có hoàn cảnh khó khăn, thuộc diện chính sách nhưng không có đất, phải ở nhờ trên đất của gia đình bà N nên vận động gia đình bà N cho bà C đất để xây nhà tình nghĩa. Gia đình bà C không có đất nào khác nên mới ở nhờ đất của gia đình bà N, thời gian đầu chỉ có bà C và con gái út sinh sống, sau này khi bà C già yếu thì bà T mới về sinh sống trên đất để chăm sóc cho bà C và ở trên đất đến nay. Ông N2 chỉ biết gia đình bà T xây nhà tạm để sửa xe, không biết đất xây nhà tạm của ai. Ông N2 đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt.

* Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 23/2022/DS-ST ngày 28 tháng 4 năm 2022 của Tòa án nhân dân thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương, đã quyết định:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị N (Nguyễn Thị N1) đối với bị đơn Nguyễn Thị T về việc “tranh chấp quyền sử dụng đất”.
  2. Công nhận diện tích đất 97,2m² là một phần đất của thửa đất số 183, tờ bản đồ số 05, tại phường U, thị xã T, tỉnh Bình Dương thuộc quyền sử dụng của bà Nguyễn Thị N (bà Nguyễn Thị N1).

    Buộc bà Nguyễn Thị T phải trả lại bà Nguyễn Thị N (bà Nguyễn Thị N1) diện tích đất 97,2m² thuộc một phần thửa đất số 183, tờ bản đồ số 05, tại phường U, thị xã T, tỉnh Bình Dương; đất có tứ cận: Hướng Đông giáp thửa đất số 182; hướng Tây giáp phần còn lại của thửa đất số 183; hướng Nam giáp thửa đất số 304; hướng Bắc giáp phần còn lại của thửa đất số 183 và đường L, (có sơ đồ bản vẽ kèm theo).

    Bà Nguyễn Thị N (bà Nguyễn Thị N1) được quyền sở hữu cây me khoảng 40 năm tuổi trên diện tích đất 97,2m² nêu trên.

    Bà Nguyễn Thị N (Nguyễn Thị N1) có quyền và nghĩa vụ liên hệ cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng thửa đất đối với diện tích đất 97,2m² thuộc thửa đất số 183, tờ bản đồ số 05, tại phường U, thị xã T, tỉnh Bình Dương.

    Bà Nguyễn Thị N (Nguyễn Thị N1) phải hoàn lại cho bà Nguyễn Thị T số tiền 13.000.000 đồng là giá trị của 02 hầm chứa nước thải và khối lượng đất mà bà Nguyễn Thị T đã san lấp.

  3. Buộc bị đơn bà Nguyễn Thị T, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Hoàng S và bà Trương Thị Thanh H phải tháo dỡ, di dời các công trình xây dựng trên diện tích đất 97,2m² thuộc thửa đất số 183, tờ bản đồ số 05, tại phường U, thị xã T, tỉnh Bình Dương gồm: nhà tạm kết cấu mái tole, vách tole, kèo sắt, nền xi măng diện tích 12,9m²; mái che gắn liền nhà tạm kết cấu mái tole, vách tole, kèo sắt, nền xi măng, không vách diện tích 35m²; bồn nước bằng inox loại 200 lít có chân sắt; 03 trụ bê tông lõi sắt.
  4. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bà Nguyễn Thị T về việc công nhận diện tích đất 94,5m² là một phần của thửa đất số 183, tờ bản đồ số 05, tại phường U, thị xã T, tỉnh Bình Dương thuộc quyền sử dụng của bà Nguyễn Thị T.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí, trách nhiệm thi hành án và quyền kháng cáo cho các đương sự.

* Tại Bản án dân sự phúc thẩm số 189/2022/DS-PT ngày 25/8/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương đã quyết định:

Hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 23/2022/DS-ST ngày 28 tháng 4 năm 2022 của Tòa án nhân dân thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương. Chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.

* Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 125/2023/DS-ST ngày 26 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương, đã quyết định:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị N (Nguyễn Thị N1) đối với bị đơn Nguyễn Thị T về việc “tranh chấp quyền sử dụng đất”.
  2. - Công nhận diện tích đất 97,2m² là một phần đất của thửa đất số 183, tờ bản đồ số 05, tại phường U, thành phố T, tỉnh Bình Dương, thuộc quyền sử dụng của bà Nguyễn Thị N (bà Nguyễn Thị N1).

    - Buộc bà Nguyễn Thị T phải trả lại bà Nguyễn Thị N (bà Nguyễn Thị N1) diện tích đất 97,2m² thuộc một phần thửa đất số 183, tờ bản đồ số 05, tại phường U, thành phố T, tỉnh Bình Dương, đất có tứ cận; Hướng Đông giáp thửa đất số 182; Hướng Tây giáp phần còn lại của thửa đất số 183; Hướng Nam giáp thửa đất số 304; Hướng Bắc giáp phần còn lại của thửa đất số 183 và đường L (có sơ đồ bản vẽ kèm theo).

    - Bà Nguyễn Thị N (bà Nguyễn Thị N1) được quyền sở hữu cây me khoảng 40 năm tuổi trên diện tích đất 97,2m² nêu trên.

    - Bà Nguyễn Thị N (Nguyễn Thị N1) có quyền và nghĩa vụ liên hệ cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng thửa đất đối với diện tích đất 97,2m² thuộc thửa đất số 183, tờ bản đồ số 05, tại phường U, thành phố T, tỉnh Bình Dương.

    - Bà Nguyễn Thị N (Nguyễn Thị N1) phải hoàn lại cho bà Nguyễn Thị T số tiền 13.000.000 đồng là giá trị của 02 hầm chứa nước thải và khối lượng đất mà bà Nguyễn Thị T đã san lấp.

  3. Buộc bị đơn bà Nguyễn Thị T, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Hoàng S và bà Trương Thị Thanh H phải tháo dỡ, di dời các công trình xây dựng trên diện tích đất 97,2m² thuộc thửa đất số 183, tờ bản đồ số 05, tại phường U, thị xã T, tỉnh Bình Dương gồm: nhà tạm kết cấu mái tole, vách tole, kèo sắt, nền xi măng diện tích 12,9m²; mái che gắn liền nhà tạm kết cấu mái tole, vách tole, kèo sắt, nền xi măng, không vách diện tích 35m²; bồn nước bằng inox loại 200 lít có chân sắt; 03 trụ bê tông lõi sắt.
  4. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bà Nguyễn Thị T về việc công nhận diện tích đất 94,5m² là một phần của thửa đất số 183, tờ bản đồ số 05, tại phường U, thành phố T, tỉnh Bình Dương thuộc quyền sử dụng của bà Nguyễn Thị T.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về chi phí tố tụng, về án phí, trách nhiệm thi hành án và quyền kháng cáo cho các đương sự.

Sau khi có bản án sơ thẩm, ngày 29/12/2023, bị đơn bà Nguyễn Thị T có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm hủy án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm; người đại diện hợp pháp của bị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu phản tố và thay đổi yêu cầu kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử sửa án theo hướng không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương phát biểu quan điểm:

Về tố tụng: Những người tham gia tố tụng và những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng và đủ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại đơn kháng cáo ngày 29/12/2023, bị đơn bà Nguyễn Thị T có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm hủy án sơ thẩm. Tại phiên tòa phúc thẩm, thay đổi yêu cầu kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử sửa án theo hướng không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn. Việc thay đổi yêu cầu kháng cáo của bị đơn vẫn trong phạm vi kháng cáo nên có căn cứ chấp nhận. Tuy nhiên, vụ án này đã qua hai lần xét xử sơ thẩm và một lần xét xử phúc thẩm. Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 23/2022/DS-ST ngày 28 tháng 4 năm 2022 của Tòa án nhân dân thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương thì thành phần Hội đồng xét xử có Hội thẩm nhân dân là ông Lê Quang Xẹt tham gia. Bản án này đã bị hủy theo nội dung Bản án dân sự phúc thẩm số 189/2022/DS-PT ngày 25/8/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương. Tòa án cấp sơ thẩm xét xử lại vụ án thì tại Bản án dân sự sơ thẩm số 125/2023/DS-ST ngày 26 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương thì thành phần Hội đồng xét xử lại cũng có Hội thẩm nhân dân là ông Lê Quang X1 tham gia là vi phạm nghiệm trong thủ tục tố tụng nên đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương không phát biểu quan điểm về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 3 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn, hủy bản án sơ thẩm.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, lời trình bày của các đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên,

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân thành phố T, bà Trương Thanh H, ông Nguyễn Văn R, ông Trương Văn B1, bà Trương Thị G, ông Nguyễn Hoàng S tất cả đều có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Căn cứ khoản 2 Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự có tên trên.

[1.2] Tại đơn kháng cáo ngày 29/12/2023, bị đơn bà Nguyễn Thị T có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm hủy án sơ thẩm. Tại phiên tòa phúc thẩm, thay đổi yêu cầu kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử sửa án theo hướng không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn. Việc thay đổi yêu cầu kháng cáo của bị đơn vẫn trong phạm vi kháng cáo nên Hội đồng xét xử vẫn xem xét giải quyết.

[2] Về nội dung tranh chấp:

[2.1] Nguyên đơn cho rằng đất tranh chấp thuộc một phần diện tích mà nguyên đơn đã được Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất qua các Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 279/GCN-SB ngày 31/10/1990; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào số 06043 QSDĐ/TU ngày 26/01/1999; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào số H 02430 ngày 25/5/2007. Do vậy, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu công nhận diện tích đất theo đo đạc thực tế 97,2m² là một phần của thửa đất số 183, tờ bản đồ số 05, tại khu phố D, phường U, thành phố T, tỉnh Bình Dương thuộc quyền quản lý, sử dụng hợp pháp của bà Nguyễn Thị N; buộc bà Nguyên Thị T3 cùng ông Nguyễn Hoàng S, bà Trương Thị Thanh H (con trai và con dâu bà T3) phải tháo dỡ các công trình xây dựng gồm: nhà tạm làm quán sửa xe, diện tích 12,9m²; mái che 35m²; di dời bồn nước bằng inox có chân sắt loại 200 lít và 03 trụ bê tông lõi sắt để trả bà N diện tích đất bị lấn chiếm 97,2m² thuộc thửa đất số 183, tờ bản đồ số 5.

[2.2] Bị đơn cho rằng đất tranh chấp thuộc một phần diện tích đã được cấp Giấy công nhận quyền sở hữu nhà cửa của Sở Xây dựng tỉnh S (nay là tỉnh Bình Dương) ngày 11/3/1988 công nhận bà Trương Thị C (là mẹ của bị đơn) là chủ sở hữu căn nhà diện tích xây dựng 110m² loại nhà trệt, mái tranh, vách rào đan, nền đất, đất thổ cư 176m². Sau khi bà C chết thì bà Nguyễn Thị T tiếp tục, quản lý sử dụng. Do vậy, bị đơn phản tố yêu cầu Tòa án công nhận phần diện tích đất theo kết quả đo đạc thực tế 94,5m² là một phần của thửa số 183, tờ bản đồ số 05, tại phường U, thị xã T, tỉnh Bình Dương thuộc quyền sử dụng hợp pháp của bà Nguyễn Thị T.

[3] Hội đồng xét xử xét thấy, vụ việc tranh chấp trên đã qua hai lần xét xử sơ thẩm và một lần xét xử phúc thẩm. Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 23/2022/DS-ST ngày 28 tháng 4 năm 2022 của Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố ) T, tỉnh Bình Dương thì thành phần Hội đồng xét xử có Hội thẩm nhân dân là ông Lê Quang X1 tham gia. Tại Bản án dân sự phúc thẩm số 189/2022/DS-PT ngày 25/8/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương đã hủy toàn bộ bản án, chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm. Tòa án cấp sơ thẩm tiến hành xét xử lại vụ án, tại Bản án dân sự sơ thẩm số 125/2023/DS-ST ngày 26 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương thì thành phần Hội đồng xét xử lại cũng có Hội thẩm nhân dân là ông Lê Quang X1 tham gia là vi phạm nghiêm trong thủ tục tố tụng về thành phần những người tiến hành tố tụng theo quy định tại khoản 3 Điều 53 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Từ những phân tích trên, xét thấy có căn cứ để chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn, Hội đồng xét xử phúc thẩm hủy toàn bộ bản án sơ thẩm và giao hồ sơ cho Tòa án cấp sơ thẩm xét xử lại theo thủ tục chung.

[4] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tại phiên tòa phúc thẩm là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên có căn cứ chấp nhận.

[5] Về án phí dân sự phúc thẩm: Người kháng cáo không phải chịu.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ khoản 3 Điều 148, khoản 3 Điều 308, Điều 310 và Điều 313 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • - Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
  1. Chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị T.
  2. Hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 125/2023/DS-ST ngày 26 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.

    Chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương giải quyết lại vụ án theo thủ tục chung.

  3. Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Nguyễn Thị T được miễn nộp án phí.
  4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bình Dương;
  • - Chi cục THADS thành phố Tân Uyên;
  • - TAND thành phố Tân Uyên;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: HCTP, HSVA, Tòa Dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Huỳnh Thị Thanh Tuyền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 276/2024/DS-PT ngày 30/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 276/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 30/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hủy bản án sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger