|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 276/2023/HN-ST Ngày: 29/12/2023 V/v "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Tuyền
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Hồng; ông Trịnh Văn Bé.
- Thư ký phiên toà: Bà Lê Tường Vi, Thư ký Toà án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Phước Lợi, Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 12 năm 2023 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Chợ Mới xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 582/2023/TLST-HN ngày 05 tháng 10 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 550/2023/QĐXXST-HN ngày 24 tháng 11 năm 2023, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Trần Thị Tuyết K, sinh năm 1984, cư trú: ấp A, xã A, huyện C, tỉnh An Giang; địa chỉ liên lạc: tổ D, ấp T, xã M, huyện T, tỉnh An Giang (có mặt).
Bị đơn: Ông Nguyễn Minh H, sinh năm 1981, cư trú: ấp A, xã A, huyện C, tỉnh An Giang (văng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai cùng ngày 02/10/2023, nguyên đơn bà Trần Thị Tuyết K trình bày:
Bà và ông Nguyễn Minh H quen biết, tìm hiểu nhau, tự nguyện tiến đến hôn nhân, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện T, tỉnh An Giang vào ngày 30/7/2013. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến cuối năm 2013 thì phát sinh mâu thuẫn do không tôn trọng nhau, tính tình không hợp nhau. Trong thời gian chung sống thường xảy ra bất hòa, thường xuyên mâu thuẫn không thể giải quyết được, cả hai tìm cách hàn gắn nhưng không thể sống chung và ly thân từ đó đến nay. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu được ly hôn với ông H.
Về con chung: có 02 con chung tên Nguyễn Thị Thu C, sinh ngày 03/4/2007 và Nguyễn Thanh B, sinh ngày 04/5/2010, các con hiện đang sống với ông H. Sau khi ly hôn bà K đồng ý để ông H tiếp tục nuôi con chung đến khi trưởng thành, bà K không cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: không có.
Trong quá trình giải quyết vụ án ông Trần Minh H1 đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng ông H1 vẫn không đến Tòa án.
Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn bà K vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn với ông H1. Về con chung, bà đồng ý để hai cháu Nguyễn Thị Thu C, sinh ngày 03/4/2007 và Nguyễn Thanh B, sinh ngày 04/5/2010 cho ông H1 được tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc. Về tài sản chung thì không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung là không có.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới phát biểu:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của nguyên đơn, bị đơn trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định pháp luật.
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, 71, 234 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp với quy định tại Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án:
Về quan hệ hôn nhân, bà K và ông H1 chung sống với nhau từ năm 2007 đến ngày 30/7/2013 đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện T, tỉnh An Giang, đến cuối năm 2013 bà K đã về nhà mẹ ruột sinh sống cho đến nay. Xét thấy, bà K và ông H1 đã ly thân từ năm 2013, Tòa án đã tống đạt cho ông H1 nhưng ông vẫn không có ý kiến. Từ đó cho thấy, mâu thuẫn giữa bà K và ông H1 đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn nên bà K yêu cầu ly hôn với ông H1 là có căn cứ, phù hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về con chung: có 02 con chung tên Nguyễn Thị Thu C, sinh ngày 03/4/2007 và Nguyễn Thanh B, sinh ngày 04/5/2010, các con hiện đang sống với ông H1. Do đó để ổn định cho các cháu cần tiếp tục giao hai cháu cho ông H1 tiếp tục nuôi dưỡng cho đến khi các cháu thành niên, bà K không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đề cập giải quyết. Về nợ chung: không có.
Do đó đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà K đối với ông H1. Về quan hệ con chung: giao hai cháu Nguyễn Thị Thu C, sinh ngày 03/4/2007 và Nguyễn Thanh B, sinh ngày 04/5/2010 cho ông H1 tiếp tục nuôi dưỡng, bà K không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Bà Trần Thị Tuyết K có đơn yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Minh H, ông H cư trú tại ấp A, xã A, huyện C, tỉnh An Giang. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới.
Ông Nguyễn Minh H đã được triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông H theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân:
Bà K và ông H sống chung với nhau từ năm 2007, đến ngày 30/7/2013 đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện T, tỉnh An Giang nên quan hệ hôn nhân giữa bà K và ông Hlà hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Bà K xác định vợ chồng chung sống hạnh phúc đến cuối năm 2013 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, bà K về nhà mẹ ruột sinh sống và đã ly thân với ông H từ cuối năm 2013 cho đến nay.
Xét thấy, xuất phát từ mâu thuẫn trong thời gian chung sống, bà K và ông P không còn sống chung từ năm 2013 cho đến nay, vợ chồng không quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Bên cạnh đó, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông H nhưng ông H không có ý kiến phản đối yêu cầu ly hôn của bà K. Từ đó cho thấy mâu thuẫn giữa bà K, ông H là trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà K đối với ông H theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
[2.2] Về quan hệ con chung: có 02 con chung tên Nguyễn Thị Thu C, sinh ngày 03/4/2007 và Nguyễn Thanh B, sinh ngày 04/5/2010, các con hiện đang sống với ông H. Bà K đồng ý để ông H tiếp tục nuôi con chung đến khi thành niên, bà K không cấp dưỡng nuôi con.
Xét thấy, con chung đang được ông H chăm sóc, nuôi dưỡng, phát triển ổn định. Do đó, để đảm bảo ổn định cuộc sống cho con chung, giúp con chung phát
triển tốt về thể chất, tinh thần, giao hai cháu Nguyễn Thị Thu C và Nguyễn Thanh B cho ông H tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng theo quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về cấp dưỡng nuôi con chung, bà K đồng ý giao con chung cho ông H nuôi dưỡng và không cấp dưỡng nuôi con chung, ông H không có ý kiến đối với việc cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[2.3] Về quan hệ tài sản chung: bà K không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đề cập giải quyết.
[2.4] Về quan hệ nợ chung: ghi nhận bà K xác định không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[2.5] Về án phí sơ thẩm: Bà K phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Ông H không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 144, Điều 147 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Tuyết K.
Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị Tuyết K được ly hôn với ông Nguyễn Minh H.
Giấy chứng nhận kết hôn số 38/2013, ngày 30/7/2013 do Ủy ban nhân dân xã M, huyện T, tỉnh An Giang cấp cho bà Trần Thị Tuyết K và ông Nguyễn Minh H không còn giá trị pháp lý.
Về quan hệ con chung:
Ông Nguyễn Minh H được trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung tên Nguyễn Thị Thu C, sinh ngày 03/4/2007 và Nguyễn Thanh B, sinh ngày 04/5/2010. Bà Trần Thị Tuyết K không phải cấp dưỡng nuôi dạy con chung.
Ông Nguyễn Minh H cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở bà Trần Thị Tuyết K trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.
Về án phí sơ thẩm:
Bà Trần Thị Tuyết K phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm 300.000 (ba trăm nghìn) đồng nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm nghìn) đồng đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0013979 do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang cấp ngày 05 tháng 10 năm 2023.
Ông Nguyễn Minh H không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bà Trần Thị Tuyết K có quyền kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.
Riêng thời hạn kháng cáo của ông Nguyễn Minh H được tính là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thanh Tuyền |
Bản án số 276/2023/HN-ST ngày 29/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 276/2023/HN-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/12/2023
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngày 29 tháng 12 năm 2023 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Chợ Mới xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 582/2023/TLST-HN ngày 05 tháng 10 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 550/2023/QĐXXST-HN ngày 24 tháng 11 năm 2023, giữa các đương sự: 1. Nguyên đơn: Bà Trần Thị Tuyết K, sinh năm 1984, cư trú: ấp A, xã A, huyện C, tỉnh An Giang; địa chỉ liên lạc: tổ D, ấp T, xã M, huyện T, tỉnh An Giang (có mặt). 2. Bị đơn: Ông Nguyễn Minh H, sinh năm 1981, cư trú: ấp A, xã A, huyện C, tỉnh An Giang (vắng mặt).
