|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 280/2023/HS-ST Ngày: 30 - 11 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Hoàng Sơn.
Các Hội thẩm nhân dân.
1/ Ông Nguyễn Trí Dũng.
2/ Ông Đặng Văn Ấn
Thư ký phiên toà: Bà Châu Nguyễn Thanh Thảo – Thư ký Toà án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Ông Mai Trường An – Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 11 năm 2023, tại Phòng xét xử hình sự thuộc Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 282/2023/TLST-HS ngày 31 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 292/2023/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Huỳnh Thanh L, (tên gọi khác: B) sinh năm 1975, tại Thành phố Hồ Chí Minh; giới tính: Nam; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 2337 (số cũ D9/8) ấp N, xã B, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở: Như trên; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; họ và tên cha: Nguyễn Văn L; họ và tên mẹ: Huỳnh Thị B; hoàn cảnh gia đình: Bị cáo có vợ tên Dương Thị Thanh D và có 01 người con sinh năm 1994.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân:
Ngày 25/5/2020, bị Tòa án nhân dân huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long xử phạt 01 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng” theo Bản án số 12/2020/HS-ST. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 13/12/2020, theo Công văn số 128/HS-TGCB ngày 05/7/2023 của Trại giam Châu Bình – Cục C10; đã đóng án phí ngày 20/8/2020, theo Công văn số 42/GXN-CCTHADS ngày 22/6/2023 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long.
Ngày 26/10/2022, bị Công an huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An ra Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can về tội “Đánh bạc” (đang trong quá trình điều tra, chưa đưa ra xét xử).
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/5/2023 (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Huỳnh Thanh L là người nghiện ma túy nên thường xuyên mua ma túy để sử dụng; loại ma túy mà bị L sử dụng là Heroine và ma túy đá. Vào ngày 10/5/2023, do hết ma túy sử dụng nên L đến khu vực Bến Bình Đông thuộc Phường 14, Quận 8 gặp người thanh niên (không rõ lai lịch) mua 200.000 đồng ma túy. Người thanh niên này đưa cho L 02 đoạn ống nhựa hàn kín bên trong chứa ma túy gồm một đoạn chứa ma túy đá, một đoạn chứa ma túy loại Heroine. Sau đó, L mang số ma túy này về nhà tại địa chỉ số 2337 (số cũ D9/8), ấp 4, xã Bình Chánh, huyện Bình Chánh lấy đoạn ống nhựa chứa ma túy loại Heroine sử dụng hết, sau đó L lấy đoạn ống nhựa chứa ma túy đá chia một ít vào ống thủy tinh (nỏ) để sử dụng nhưng chưa sử dụng. Đến khoảng 16 giờ ngày 10/5/2023, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an huyện Bình Chánh, phối hợp với Công an xã Bình Chánh tiến hành kiểm tra nhà L ở địa chỉ trên. Qua kiểm tra Công an thu giữ tại nhà của L đang cất giấu 01 ống thủy tinh bên trong chứa ma túy đá; 01 đoạn ống nhựa bên trong chứa ma túy đá; 100 nỏ thủy tinh (đã thổi thành phễu) cùng những đồ vật tài liệu có liên quan đến ma túy. Lực lượng Công an lập biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang, lập hồ sơ ban đầu chuyển đến Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an huyện Bình Chánh để điều tra xử lý.
Ngoài ra, qua điều tra L còn khai nhận trước khi bị bắt vài ngày, L đi đến chợ Tham Lương thuộc Quận 12 gặp một người thanh niên (không rõ lai lịch) mua 100 nỏ thủy tinh (đã thổi sẵn thành phễu) với giá 700.000 đồng mang về nhà cất giấu, nhằm bán lại cho các người nghiện sử dụng ma túy đá với giá 10.000₫ đồng/01 nỏ thủy tinh (đã thổi sẵn thành phễu). L chưa bán được cho ai thì đã bị bắt quả tang, thu giữ vật chứng.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Chánh cho Huỳnh Thanh L tiến hành thực nghiệm điều tra, diễn tả lại hành vi sử dụng ma túy đá bằng nỏ thủy tinh (đã thổi sẵn thành phễu). L đã diễn tả được hành vi thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Kết luận giám định số 4970/KL-KTHS, ngày 15/5/2023, Phòng kỹ thuật hình sự Công an TP. Hồ Chí Minh:
Gói 01: 01 gói niêm phong bên trong có 01 nỏ thủy tinh chứa tinh thể không màu (ký hiệu m₁), qua giám định có khối lượng m₁ = 0,1765 gam, là ma túy ở thể rắn, loại Methamphetamine.
Gói 02: 01 gói niêm phong bên trong có 01 đoạn ống nhựa chứa tinh thể không màu (ký hiệu m2), qua giám định có khối lượng m2 = 0,0119 gam, là ma túy ở thể rắn, loại Methamphetamine.
Tổng trọng lượng là 0,1884 gam ma túy ở thể rắn, loại Methamphetamine.
Vật chứng thu giữ trong vụ án: 01 gói niêm phong bên trong có 01 nỏ thủy tinh chứa tinh thể không màu (ký hiệu m₁), qua giám định có khối lượng m₁ = 0,1765 gam, là ma túy ở thể rắn, loại Methamphetamine (sau giám định còn lại là 0,1001g); 01 gói niêm phong bên trong có 01 đoạn ống nhựa chứa tinh thể không màu (ký hiệu m2), qua giám định có khối lượng m2 = 0,0119 gam, là ma túy ở thể rắn, loại Methamphetamine (hết mẫu giám định); 01 thùng nhựa kích thước 35 x35 cm; 100 nỏ thủy tinh; 04 túi nylon (bên trong chứ nhiều túi zip); 01 cân điện tử hiệu Shinko; 01 điện thoại di động hiệu Iphone, số sim 0798.041.xxx; 01 điện thoại di động hiệu Iphone chưa găn sim; 01 điện thoại di động hiệu Philips không mở được nguồn.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Chánh thì bị cáo Huỳnh Thanh L khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội nêu trên, phù hợp với lời khai của người làm chứng, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Tại Cáo trạng số 264/CT-VKS-BC ngày 25/10/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh:
Truy tố bị cáo Huỳnh Thanh L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và tội “Mua bán phương tiện, dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm đ Khoản 2 Điều 254 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, bị cáo Huỳnh Thanh L đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình giống như lời khai tại Cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Đồng thời thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh truy tố bị cáo. Bị cáo không tranh luận, lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố, sau khi nêu tóm tắt nội dung vụ án, phân tích tính chất của vụ án những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị:
Xử phạt bị cáo Huỳnh Thanh L từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), và từ 05 năm 06 tháng đến 06 năm tù về tội “Mua bán phương tiện, dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm đ Khoản 2 Điều 254 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Tổng hợp hình phạt hai tội và xử lý vật chứng theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Bình Chánh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tại các bản tự khai, biên bản ghi lời khai và tại phiên tòa bị cáo trình bày lời khai hoàn toàn tự nguyện, không bị ép cung, nhục hình. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai nhận tội của bị cáo Huỳnh Thanh L tại tòa là phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra (BL: 79 – 81; 84 - 94, ); phù hợp với các chứng cứ, tài liệu thu thập có trong hồ sơ vụ án. Vụ án còn được chứng minh qua hoạt động điều tra như biên bản lấy lời khai, thu giữ vật chứng, kết quả giám định vật chứng, Biên bản thực nghiệm điều tra; Biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang ... Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Ngày 10/5/2023, bị cáo Huỳnh Thanh L đã có hành vi tàng trữ ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng là 0,1884 gam, loại Methamphetamine (theo Kết luận giám định số 4970/KL-KTHS, ngày 15/5/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an Thành Phố Hồ Chí Minh) với mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị phát hiện bắt quả tang vào lúc 16 giờ 00 phút cùng ngày tại nhà của bị cáo tại địa chỉ số 2337 (số cũ D9/8), ấp 4, xã Bình Chánh, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.
Ngoài ra, tại thời điểm khác xét tại nhà của bị cáo ở địa chỉ trên, Cơ quan Cảnh sát điều tra còn thu giữ 100 nỏ thủy tinh (đã thổi sẵn thành phễu). Bị cáo khai nhận số nỏ thủy tinh này bị cáo mua của một người thanh niên không rõ lai lịch tại khu vực cầu Tham Lương thuộc Quận 12 với giá 700.000 đồng mang về nhà cất giấu, nhằm bán lại cho các người nghiện sử dụng ma túy đá với giá 10.000₫ đồng/01 nỏ thủy tinh.
[3] Với những tình tiết được chứng minh tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Huỳnh Thanh L đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và tội “Mua bán phương tiện, dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy” tội phạm được quy định tại Điều 254 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); nên Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh đã truy tố bị cáo với các tội danh nêu trên là đúng người, đúng tội.
[4] Tội phạm do bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, mặc dù bị cáo biết rõ ma túy là loại biệt dược được Nhà nước thống nhất quản lý hết sức chặt chẽ, mọi hành vi liên quan đến ma túy từng mức độ sẽ bị xử lý hình sự. Bị cáo là người đã trưởng thành, nhận thức được việc làm của mình là vi phạm pháp luật. Song chỉ vì muốn có tiền tiêu xài cho bản thân, muốn có ma túy sử dụng nên bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo gây mất an ninh, trật tự tại địa phương là tiền đề phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Do đó, khi lượng hình cần buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù có thời hạn một thời gian tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo thì mới có tác dụng răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung.
[5] Bị cáo tàng trữ số lượng 100 nỏ thủy tinh với mục đích bán lại cho người nghiện ma túy để kiếm lời là thuộc trường hợp định khung hình phạt, Hội đồng xét xử áp dụng điểm đ Khoản 2 Điều 254 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để xét xử bị cáo, đồng thời áp dụng Điều 55 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để tổng hợp hình phạt của hai tội.
[6] Về nhân thân của bị cáo: Bị cáo có nhân thân xấu.
Ngày 25/5/2020, bị Tòa án nhân dân huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long xử phạt 01 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng” theo Bản án số 12/2020/HS-ST.
Ngày 26/10/2022, bị Công an huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An ra Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can về tội “Đánh bạc” (vụ án đang trong quá trình điều tra, chưa đưa ra xét xử).
Do đó, khi lượng hình Hội đồng xét xử cần lưu ý đến nhân thân của bị cáo mà có mức án nghiêm.
[7] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của mình, Hội đồng xét xử áp dụng điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.
[8] Đối với người thanh niên bán ma túy cho bị cáo tại Bến Bình Đông thuộc Quận 8; người thanh niên bán nỏ thủy tinh cho bị cáo tại khu vực cầu Tham Lương thuộc Quận 12, do những đối tượng này không rõ lai lịch nên Cơ quan cảnh sát điều tra đang tiếp tục truy xét, khi nào bắt được sẽ làm rõ và xử lý sau.
[9] Về xử lý vật chứng vụ án:
Đối với 01 gói niêm phong bên trong có 01 nỏ thủy tinh chứa tinh thể không màu (ký hiệu m₁), qua giám định có khối lượng m₁ = 0,1765 gam, là ma túy ở thể rắn, loại Methamphetamine (sau giám định còn lại là 0,1001g); 01 gói niêm phong bên trong có 01 đoạn ống nhựa chứa tinh thể không màu (ký hiệu m2), qua giám định có khối lượng m2 = 0,0119 gam, là ma túy ở thể rắn, loại Methamphetamine (hết mẫu giám định); 01 thùng nhựa kích thước 35 x35 cm; 100 nỏ thủy tinh; 04 túi nylon (bên trong chứ nhiều túi zip); 01 cân điện tử hiệu Shinko. Những vật chứng trên là vật cấm tàng trữ, vật không có giá trị sẽ tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm a Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone, số sim 0798.041.xxx; 01 điện thoại di động hiệu Iphone chưa gắn sim; 01 điện thoại di động hiệu Philips không mở được nguồn. Đây là tài sản của bị cáo nhưng bị cáo dùng làm phương tiện phạm tội nên không xét trả lại mà sẽ tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước là phù hợp với quy định của pháp luật.
Đối với 01 đĩa ghi âm - ghi hình lời khai các bị cáo tiếp tục lưu giữ vào hồ sơ vụ án.
[10] Về trách nhiệm dân sự: Ở nhóm tội phạm về ma túy ngoài hình phạt chính là phạt tù thì bị cáo còn phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền, Hội đồng xét xử áp dụng Khoản 3 Điều 254 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) phạt bổ sung bị cáo một khoản tiền nhất định để nộp vào Ngân sách Nhà nước là phù hợp.
[11] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định tại tại Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c Khoản 1 Điều 249; điểm đ Khoản 2, Khoản 3 Điều 254; điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 55 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Căn cứ vào điểm a Khoản 2 Điều 106; Điều 331, Điều 332, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Căn cứ vào Khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Xử phạt bị cáo Huỳnh Thanh L 03 (ba) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” và 07 (bảy) năm tù về tội “Mua bán phương tiện, dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy”. Buộc bị cáo chấp hành chung hình phạt của hai tội là 10 (mười) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 10/5/2023.
Xử phạt bổ sung bị cáo Huỳnh Thanh L số tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) để sung vào Ngân sách Nhà nước.
Về vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy 01 gói niêm phong bên trong có 01 nỏ thủy tinh chứa tinh thể không màu (ký hiệu m₁), qua giám định có khối lượng m₁ = 0,1765 gam, là ma túy ở thể rắn, loại Methamphetamine (sau giám định còn lại là 0,1001g); 01 gói niêm phong bên trong có 01 đoạn ống nhựa chứa tinh thể không màu (ký hiệu m2), qua giám định có khối lượng m2 = 0,0119 gam, là ma túy ở thể rắn, loại Methamphetamine (hết mẫu giám định); 01 thùng nhựa kích thước 35 x35 cm; 100 nỏ thủy tinh; 04 túi nylon (bên trong chứ nhiều túi zip); 01 cân điện tử hiệu Shinko.
Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Iphone, số sim 0798.041.xxx; 01 điện thoại di động hiệu Iphone chưa gắn sim; 01 điện thoại di động hiệu Philips không mở được nguồn.
(các vật chứng trên hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh theo Biên bản giao, nhận vật chứng lập vào 14 giờ 00 phút ngày 17 tháng 10 năm 2023 giữa Công an huyện Bình Chánh và Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Bình Chánh).
Về án phí: Buộc bị cáo chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn là 15 (mười lăm) ngày tính kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Hoàng Sơn |
Bản án số 280/2023/HS-ST ngày 30/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy; mua bán phương tiện, dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 280/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy; Mua bán phương tiện, dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma túy
