Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 276/2023/HNGĐ-ST

Ngày: 27/8/2023.

“V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Mai Hoa

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Ngô Thị Thơm

Bà Dương Thị Kim Hồng

Thư ký phiên tòa: Ông Lê Quốc Phong - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa:

Bà Phạm Thị Thùy - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 259/2023/TLST-HNGĐ ngày 05/6/2023, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 310/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 27/7/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 230/2023/QĐST-HNGĐ ngày 14/8/2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Phạm Thị H, sinh năm 1983,

Địa chỉ: Đ, thôn P, xã C, huyện T, tỉnh Hải Dương;

- Bị đơn: Anh Vũ Văn T, sinh năm 1985,

Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Đội 3, thôn P, xã C, huyện T, tỉnh Hải Dương.

Chỗ ở hiện nay: Đài Loan

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Đoàn Thị G, sinh năm 1961, địa chỉ: Đ, thôn P, xã C, huyện T, tỉnh Hải Dương.

Chị H, anh T, bà G đều vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn xin ly hôn, bản tự khai, biên bản lấy lời khai chị Phạm Thị H trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị H và anh Vũ Văn T được tự do tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện T, tỉnh Hải Dương ngày 08/8/2006 là hôn nhân hợp pháp. Sau ngày cưới, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2014 anh T sang Đài Loan làm việc. Vợ chồng xa cách nhưng vẫn thường xuyên liên lạc, năm 2018 vợ chồng bắt đầu nảy sinh mâu thuẫn và không còn liên lạc trong thời gian dài. Chị H xác định tình cảm vợ chồng không còn và đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T. Thông qua gia đình, anh T xác định do vợ chồng xa cách nên nảy sinh mâu thuẫn, anh T nhất trí ly hôn theo đề nghị của chị H. Xét thấy, thực tế anh T và chị H không chung sống cùng nhau từ nhiều năm và không còn quan tâm đến nhau, mâu thuẫn của chị H và anh T đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, việc chị H xin ly hôn anh T là phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình nên được chấp nhận.

- Về con chung: Chị và anh T có 02 con chung là Vũ Thị Ngọc H1, sinh ngày 08/4/2007 và cháu Vũ Hoàng D, sinh ngày 22/12/2009. Chị H, anh T thống nhất để chị H tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung Vũ Thị Ngọc H1, anh T chăm sóc, nuôi dưỡng con chung Vũ Hoàng D. Hai bên không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung cho nhau. Anh T hiện chưa về nước có đề nghị bà G chăm sóc cháu D trong thời gian anh T chưa về nước, chị nhất trí.

- Về tài sản chung, vay nợ: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn: Quá trình giải quyết vụ án, chị H không cung cấp được địa chỉ của anh T tại Đài Loan nên Tòa án đã xác minh qua gia đình anh T, đồng thời yêu cầu gia đình cung cấp địa chỉ của anh T. Bà Đoàn Thị G là mẹ đẻ anh T trình bày: Về thời điểm kết hôn, mâu thuẫn vợ chồng giữa anh T và chị H như chị H trình bày là đúng. Hiện nay, anh T đang làm việc tại Đài Loan, sau khi nhận được thông báo thụ lý và các văn bản của Tòa án, bà đã thông báo cho anh T biết về việc chị H có đơn xin ly hôn với anh và yêu cầu giải quyết việc nuôi dưỡng con chung, quan điểm của anh T nhất trí ly hôn. Về con chung: Anh xác định có 2 con chung là Vũ Thị Ngọc H1, sinh ngày 08/4/2007 và cháu Vũ Hoàng D, sinh ngày 22/12/2009. Ly hôn, anh T nguyện vọng được chăm sóc, nuôi dưỡng con chung Vũ Hoàng D, chị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung Vũ Thị Ngọc H1, hai bên không phải cấp dưỡng tiền nuôi dưỡng con chung cho nhau. Hiện nay anh T đang làm việc tại Đài Loan chưa về nước, anh T nhờ bà thay anh T chăm sóc, nuôi dưỡng cháu D trong thời gian anh ở nước ngoài, bà nhất trí. Về tài sản chung, vay nợ: Anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết. Hiện nay, anh T đang đi làm xa nên anh T xin vắng mặt tại các buổi làm việc và phiên tòa, các văn bản Tòa án gửi cho anh T đề nghị gửi cho bà và bà sẽ có trách nhiệm thông báo cho anh T.

Tại phiên tòa: Nguyên đơn chị H có đơn xin xét xử vắng mặt và có quan điểm giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; Bị đơn anh T vắng mặt tại phiên tòa không có lý do, bà G có quan điểm xin vắng mặt.

* Đại diện Viện sát nhân dân tỉnh H phát biểu quan điểm:

Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và nguyên đơn chấp hành đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chưa chấp hành đúng quy định Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình: Xử cho chị Phạm Thị H được ly hôn anh Vũ Văn T. Giao cho chị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung Vũ Thị Ngọc H1, sinh ngày 08/4/2007, anh T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng con chung Vũ Hoàng D, sinh ngày 22/12/2009 cho đến khi trưởng thành. Tạm giao cháu D cho bà Đoàn Thị G chăm sóc, nuôi dưỡng trong thời gian anh T chưa về nước. Chấp nhận thỏa thuận hai bên không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung cho nhau; Về tài sản chung, vay nợ: Các đương sự không yêu cầu nên không phải giải quyết; Về án phí: Chị H phải chịu 300.000đồng án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng:

Chị Phạm Thị H có đơn khởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương giải quyết việc ly hôn giữa chị với anh Vũ Văn T. Anh T hiện đang sinh sống và lao động tại Đài Loan. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.

Trong quá trình giải quyết vụ án, chị H không cung cấp được địa chỉ của anh T tại Đài Loan. Theo hướng dẫn tại Công văn số 253/TANDTC-PC ngày 26/11/2018 của Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương đã yêu cầu chị H và gia đình anh T cung cấp địa chỉ, nhưng chị H không cung cấp được. Gia đình anh T xác định anh T vẫn thường xuyên liên lạc với gia đình, được thông báo về việc chị H có đơn xin ly hôn, anh T không cung cấp địa chỉ và không gửi ý kiến trình bày bằng văn bản cho Tòa án. Do vậy, áp dụng Công văn số 253/TANDTC-PC ngày 26/11/2018 của Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương tiến hành giải quyết vụ án theo thủ tục cố tình giấu địa chỉ.

Tại phiên tòa chị H có đơn xin xét xử vắng mặt, anh T vắng mặt không lý do, bà G đề nghị xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị H, anh T, bà G.

[2]. Về nội dung:

[2.1]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị H và anh Vũ Văn T được tự do tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện T, tỉnh Hải Dương ngày 08/8/2006 là hôn nhân hợp pháp. Sau ngày cưới, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2014 anh T sang Đài Loan làm việc. Vợ chồng xa cách nhưng vẫn thường xuyên liên lạc, năm 2018 vợ chồng bắt đầu nảy sinh mâu thuẫn và không còn liên lạc trong thời gian dài. Chị H xác định tình cảm vợ chồng không còn và đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T. Thông qua gia đình, anh T xác định do vợ chồng xa cách nên nảy sinh mâu thuẫn, anh T nhất trí ly hôn theo đề nghị của chị H. Xét thấy, thực tế anh T và chị H không chung sống cùng nhau từ nhiều năm và không còn quan tâm đến nhau, mâu thuẫn của chị H và anh T đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, việc chị H xin ly hôn anh T là phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình nên được chấp nhận.

[2.2]. Về quan hệ con chung: Chị H, anh T có 02 con chung là Vũ Thị Ngọc H1, sinh ngày 08/4/2007 và cháu Vũ Hoàng D, sinh ngày 22/12/2009. Chị H, anh T thống nhất để chị H tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung Vũ Thị Ngọc H1, anh T chăm sóc, nuôi dưỡng con chung Vũ Hoàng D. Hai bên không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung cho nhau. Anh T hiện chưa về nước có đề nghị bà G chăm sóc cháu D cho đến khi anh về nước, bà G nhất trí.

Xét thấy: Sự thỏa thuận của các đương sự phù hợp với quy định của pháp luật và đảm bảo quyền lợi của các con chung. Do đó, chấp nhận thỏa thuận của chị H và anh T. Giao cho chị H tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung: Vũ Thị Ngọc H1, anh T chăm sóc, nuôi dưỡng con chung Vũ Hoàng D. Anh T hiện đang làm việc tại Đài Loan không có mặt tại Việt Nam nên tạm giao cháu Vũ Hoàng D cho bà Đoàn Thị G (mẹ đẻ của anh T) chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi anh T về Việt Nam trực tiếp nuôi dưỡng. Hai bên không phải cấp dưỡng tiền nuôi dưỡng con chung cho nhau.

Chị H, anh T được quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở là phù hợp với quy định tại Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình.

[2.3]. Về tài sản chung, vay nợ: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3]. Về án phí: Chị H là nguyên đơn nên phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định.

[4]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng: Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân & Gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Phạm Thị H được ly hôn với anh Vũ Văn T.

2. Về con chung: Giao cho chị Phạm Thị H được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung Vũ Thị Ngọc H1, sinh ngày 08/4/2007, giao cho anh Vũ Văn T được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung Vũ Hoàng D, sinh ngày 22/12/2009 từ tháng 8/2023 đến khi con chung tròn 18 tuổi. Chấp nhận sự tự nguyện của hai bên không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung cho nhau.

Tạm giao cháu Vũ Hoàng D cho bà Đoàn Thị G chăm sóc, nuôi dưỡng trong thời gian anh T không ở Việt Nam.

Chị Phạm Thị H, anh Vũ Văn T được quyền, nghĩa vụ thăm nom các con chung mà không ai được cản trở.

3. Về án phí: Chị Phạm Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2022/0000793 ngày 05/6/2023 (chị H đã nộp đủ án phí).

4. Về quyền kháng cáo: Chị H, bà G vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 tháng kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết. Anh T vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết./.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND tỉnh Hải Dương;
  • - Cục THADS tỉnh Hải Dương;
  • - UBND xã C huyện T
  • (để ghi vào sổ ĐKKH);
  • - Lưu hồ sơ, VP, Tòa HC, Tòa GĐ&NCTN.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Mai Hoa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 276/2023/HNGĐ-ST ngày 27/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 276/2023/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/08/2023
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Thị H xin ly hôn Vũ Văn T và tranh chấp về nuôi con kkhi ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger