Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH

TỈNH NAM ĐỊNH

Bản án số: 276/2024/HS-ST

Ngày: 10-12-2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vũ Văn Trường

Các Hội thẩm nhân dân:

  • Bà Phạm Thị Loan
  • Bà Trần Thị Nhung

- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Thanh Lam - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Nam Định

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Tiến Nam - Kiểm sát viên

Ngày 10 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Nam Định tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 268/2024/TLST-HS, ngày 15 tháng 11 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 268/2024/QĐXXST-HS, ngày 27 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn H, sinh năm: 1993, tại: tỉnh Thái Bình; số căn cước công dân: [...]; nơi đăng ký thường trú: Thôn T, xã V, thành phố T, tỉnh Thái Bình; nơi cư trú: Không có nơi cư trú cố định; nghề nghiệp: Tự do; trình độ học vấn: 0/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T và bà Lưu Thị T1; có vợ là Lê Thị T2 và 01 con; tiền án: Ngày 15-3-2012, Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định xét xử phúc thẩm, xử phạt 09 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” (chấp hành xong hình phạt tù ngày 20-7-2020 nhưng chưa thi hành các quyết định khác của bản án), tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 29-12-2010, Tòa án nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo bị tạm giữ ngày 21-9-2024, chuyển tạm giam ngày 30-9-2024. Bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố N. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).

- Bị hại: Anh Trần Minh K, sinh năm 1989; nơi cư trú: Số A T, phường N, thành phố N, tỉnh Nam Định (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 02 giờ ngày 21-9-2024, Nguyễn Văn H điều khiển xe máy biển kiểm soát 36R5 - 6880 đi lang thang khu vực phường N, thành phố N, tỉnh Nam Định tìm kiếm tài sản sơ hở để trộm cắp. Khi đến trước nhà anh Trần Minh K, sinh năm 1989, địa chỉ số A đường T, phường N, thành phố N, H phát hiện chủ nhà tắt điện, đi ngủ nhưng không đóng cửa ra vào ban công tầng hai. H mang xe máy cất ở gầm cầu thang khu tập thể Đ, phường N, thành phố N rồi đi bộ quay lại nhà anh K, trèo qua tường vào sân rồi leo lên trụ cổng, đu người lên ban công tầng 2. H nhìn qua cửa ban công thấy vợ chồng anh K đang ngủ trên giường, dưới sàn nhà phía đầu giường cạnh bàn trang điểm có một chiếc điện thoại màu đen đang cắm sạc, trên bàn cuối giường để một chiếc máy tính bảng màu xám đen. H vào phòng lấy chiếc máy tính bảng kẹp vào nách phải, lấy chiếc điện thoại cất vào túi quần trái rồi ra khỏi phòng, cho chiếc máy tính bảng vào trong áo, nhanh chóng tẩu thoát theo đường cũ. H đi bộ quay lại khu tập thể Đ lấy xe máy và kiểm tra tài sản vừa trộm cắp được thì phát hiện điện thoại không cài mật khẩu nên tháo sim vứt đi, chiếc máy tính bảng có cài mật khẩu, H thử mật khẩu vài lần thì mở được với mật khẩu “0000” rồi mang đến nhà chị Trần Thị T3 sinh năm 1990, trú tại H ngách B tập thể Đ, phường N, thành phố N đặt chiếc máy tính bảng (có đăng nhập được mật khẩu) vay được số tiền được 300.000 đồng. Số tiền này H đã tiêu xài cá nhân hết.

Tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố N, Nguyễn Văn H đã đầu thú, khai nhận hành vi phạm tội và giao nộp chiếc điện thoại Samsung A04 đã trộm cắp được. Quá trình điều tra chị Trần Thị T3 giao nộp chiếc máy tính bảng đã mua của H.

Kết luận định giá tài sản số 53/KL-HĐĐGTS ngày 25-9-2024 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự thành phố N kết luận: Chiếc điện thoại Samsung A04S có trị giá 2.000.000 đồng; chiếc máy tính bảng Ipad 5 có trị giá 3.500.000 đồng. Tổng cộng là 5.500.000 đồng. Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc điện thoại Samsung A04S và chiếc máy tính bảng Ipad 5 cho anh Trần Minh K nhận lại và không đề nghị gì khác. Chị Trần Thị T3 không yêu cầu H trả lại số tiền 300.000 đồng.

Cáo trạng số 272/CT-VKS-TPNĐ ngày 14 tháng 11 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định truy tố Nguyễn Văn H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định giữ quyền công tố và luận tội: Giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Nguyễn Văn H theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

  • - Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • - Xử phạt bị cáo từ 01 (Một) năm 06 (S) tháng tù đến 01 (Một) năm 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 21-9-2024.
  • - Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn H thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình. Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn H và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.

[2] Về tội danh:

Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Văn H trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa hôm nay phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác như: Đơn trình báo và lời khai của bị hại; Kết luận định giá tài sản số 53/KL-HĐĐGTS ngày 25-9-2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố N cùng các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 02 giờ ngày 21-9-2024, tại nhà số A đường T, phường N, thành phố N, lợi dụng chủ tài sản là anh Trần Minh K ngủ say, Nguyễn Văn H đã có hành vi lén lút chiếm đoạt chiếc điện thoại Samsung A04S có trị giá 2.000.000 đồng và chiếc máy tính bảng Ipad 5 có trị giá 3.500.000 đồng. Tổng trị giá tài sản H chiếm đoạt là 5.500.000 đồng.

Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn H là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ. Bản thân bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng chỉ vì mục đích tư lợi, bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Giá trị tài sản bị cáo trộm cắp là 5.500.000 đồng nên bị cáo đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[3] Về các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi sự việc xảy ra bị cáo đã đã tự nguyện khắc phục hậu quả, thành khẩn khai báo, đầu thú nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã bị kết án nhưng chưa được xóa án tích, phạm tội lần này do cố ý nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[4] Về hình phạt:

Hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Văn H gây tâm lý hoang mang trong quần chúng nhân dân, ảnh hưởng xấu đối với an ninh trật tự trên địa bàn thành phố N. Bản thân bị cáo có nhân thân xấu, đã nhiều lần bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản” trong đó có một tiền án chưa được xóa án tích nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng rèn luyện mà lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn, với mức hình phạt nghiêm khắc đối với hành vi phạm tội của bị cáo nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.

[5] Về hình phạt bổ sung:

Xét thấy bị cáo Nguyễn Văn H không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Về vấn đề dân sự và xử lý vật chứng:

Đối với chiếc điện thoại Samsung A04S và chiếc máy tính bảng Ipad 5 là tài sản bị cáo chiếm đoạt của bị hại đã được thu hồi và trả lại cho bị hại. Bị hại anh Trần Minh K đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu nào khác nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Đối với chị Trần Thị T3 không kinh doanh dịch vụ cầm đồ mà chỉ cho H vay tiền không tính lãi suất và giữ tài sản bảo đảm cho H thực hiện nghĩa vụ trả nợ, đồng thời chị T3 không biết nguồn gốc tài sản là do phạm tội mà có nên Cơ quan điều tra không xem xét, xử lý.

Đối với số tiền 300.000 đồng chị T3 không yêu cầu H phải bồi thường nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[7] Về án phí:

Bị cáo Nguyễn Văn H bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

    Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 01 (Một) năm 06 (S) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 21-9-2024.

  2. Án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Căn cứ Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:

    Bị cáo Nguyễn Văn H phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

  3. Quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Văn H được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại là anh Trần Minh K được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

    Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Nam Định;
  • - VKSND TP. Nam Định;
  • - Chi cục THADS TP. Nam Định;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Lưu hồ sơ./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Văn Trường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 276/2024/HS-ST ngày 10/12/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH về trộm cắp tài sản (vụ án hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 276/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Vụ án hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: .
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger