Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THNH PHỐ ĐL

TỈNH LĐ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 276/2024/HS-ST

Ngày: 12 - 11 - 2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THNH PHỐ ĐL - TỈNH LĐ

- THnh phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huyền

Các Hội thẩm nhân dân: + Ông Từ Hồng Hải

+ Ông Đặng Văn Miện

- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Hương - Thẩm tra viên Toà án nhân dân tHnh phố ĐL, tỉnh LĐ.

- Đ diện Viện kiểm sát nhân dân tHnh phố ĐL - tỉnh LĐ tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Duyên - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 11 năm 2024, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân tHnh phố ĐL, tỉnh LĐ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 314/2024/TLST-HS ngày 17 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 319/2024/QĐXXST - HS ngày 18/10/2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Văn H, sinh năm: 1992, tại: ĐL; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú: Thôn 22, xả Ea Ninh, huyện C, Tình ĐL; trình độ học vấn: 9/12; nghề nghiệp: Không; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông: Trần Văn Ph, sinh năm: 1955 và bà: Đậu Thị Minh S, sinh năm: 1962; chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Không.

Tiền án: Tại Bản án số 02/2015/HSST ngày 10/02/2015, Tòa án nhân dân huyện L, tỉnh ĐL xử phạt Trần Văn H 04 (bốn) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tại Bản án số 05/2015/HSST ngày 10/02/2015, Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh ĐL xử phạt Trần Văn H 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp Hnh án phạt của tổng hợp hai bản án là 06 (sáu) năm 09 (chín) tháng tù; đã chấp Hnh xong hình phạt tù ngày 11/9/2019. Tuy nhiên, đến tháng 02/2020, Trần Văn H tiếp tục thực hiện Hnh vi phạm tội. Nhân thân:

  • + Tại Bản án số 128/2010/HSPT ngày 18/5/2010, Tòa án nhân dân Tỉnh ĐLxử phạt Trần Văn H 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; chấp Hnh xong hình phạt ngày 31/8/2011.
  • + Tại Bản án số 16/2012/HSST ngày 26/4/2012, Tòa án nhân dân huyện Cư Kuin, Tỉnh ĐL, xử phạt Trần Văn H 01 (một) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”; chấp Hnh án xong hình phạt ngày 10/01/2013.
  • + Tại Bản án số 26/2023/HSPT ngày 28/02/2023, Tòa án nhân dân tỉnh ĐLxử phạt Trần Văn H 08 (tám) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp Hnh án tại trại giam Đắk Tân - Bộ công an.

Tiền sự: Không.

Bị cáo đang chấp Hnh án tại Trại giam Đắk Tân - Bộ Công an, được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tHnh phố ĐL, tỉnh LĐ trích xuất và dẫn giải về NH tạm giữ Công an tHnh phố ĐL để phục vụ quá trình điều tra và có mặt tại phiên tòa.

- Người Đ diện theo pháp luật của bị cáo H: Bà Đậu Thị Minh S, sinh năm: 1962, địa chỉ: Thôn 22, xã Ea Ninh, huyện C, Tình ĐL, là mẹ ruột của bị cáo H. (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Văn H và Phạm Văn H, sinh năm: 1990, nơi thường trú: Xóm Đô Lương, xã Tân An, huyện Tân Kỳ, Tỉnh Nghệ An là hai đối tượng không có nghề nghiệp ổn định nên bàn bạc với nhau đến tHnh phố ĐL để trộm cắp tài sản bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Thực hiện ý định trên, cả hai cùng nhau lấy sắt mài làm vam phá khóa để đi trộm cắp xe máy trên địa bàn tHnh phố ĐL, cụ thể như sau:

Lần 1: Vào ngày 08/02/2020, H và H đi bộ qua đường An Dương Vương, Phường 2, tHnh phố ĐL thì thấy 01 xe máy hiệu Wave Alpha màu trắng, biển số 49B1-8950 của anh Lê Quang Đ đang dựng trước nH số 09 An Dương Vương, Phường 2, TP. ĐL không có người trông coi, H đứng cảnh giới còn H đi tới vị trí chiếc xe dùng vam phá khóa bẻ khóa nổ máy lấy trộm chiếc xe rồi điều khiển xe chở H đi về huyện Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước. Tại đây, H bán chiếc xe cho một người đàn ông lạ mặt không rõ tên tuổi địa chỉ được 10.000.000 đồng, số tiền trên cả hai chia nhau tiêu xài hết.

  • * Tang vật của vụ án không thu giữ được: 01 xe máy hiệu Wave Alpha màu trắng, biển số: 49B1-895.0, số máy: 3913KY381331, số khung: JA39E1248981.
  • * Người bị hại: Anh Lê Quang Đ, sinh năm: 1975, nơi thường trú: 09 An Dương Vương, Phường 2, TP ĐL, bị mất 01 xe máy hiệu Wave Alpha màu trắng, biển số: 49B1-8950, số máy: 3913KY381331, số khung: JA39E1248981. Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự tHnh phố ĐL, kết luận chiếc xe này trị giá 18.525.000 đồng, anh Đ yêu cầu được bồi thường số tiền 19.000.000 đồng. Tại bản án số 185/2020/HSST ngày 09/12/2020 của TAND tHnh phố ĐL ghi nhận sự tự nguyện bồi thường của Phạm Văn H và buộc H bồi thường cho anh Lê Quang Đ số tiền 19.000.000 đồng (BL: 15, 54-56, 167-171).

Lần 2: Vào ngày 12/2/2020, H và H đi bộ qua đường Hồ Tùng Mậu, Phường 3, TP. ĐL thì thấy 01 xe máy hiệu Honda PCX màu đen nâu, biển số 49G1-0044của anh Lê Quốc Hải Sơn đang dựng trước đường Hồ Tùng Mậu không có người trông coi, H đi tới dùng vam pha khóa để bẻ khóa lấy trộm chiếc xe, còn H đứng quan sát xung quanh để cảnh giới cho H. Sau khi lấy trộm được xe thì cả hai mang xe về bãi giấu xe trong Hồ Tuyền Lâm, TP ĐL cất giấu. Sau đó, H đưa xe cho người tên Tuấn (không rõ nhân thân lai lịch) bán cho ai và không nhớ bán được bao nhiêu tiền. Số tiền này cả hai chia nhau tiêu xài hết.

  • * Tang vật của vụ án không thu giữ được: 01 xe máy hiệu Honda PCX màu đen nâu, biển số: 49G1-004.44, số máy: 28E2112563, số khung: 3001BY009718.
  • * Người bị hại: Anh Lê Quốc Hải Sơn, sinh năm: 1991, nơi thường trú: Hẻm 27 Lê Hồng Phong, Phường 4, TP ĐL bị mất 01 xe máy hiệu Honda PCX màu đen nâu, biển số: 49G1-004.44, số máy: 28E2112563, số khung: 3001BY009718. Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự tHnh phố ĐL kết luận, chiếc xe này trị giá 16.200.000 đồng, anh Sơn yêu cầu được bồi thường 35.000.000 đồng. Tại bản án số 185 ngày 09/12/2020 của TAND tHnh phố ĐL ghi nhận sự tự nguyện bồi thường của Phạm Văn H và buộc H bồi thường cho anh Lê Quốc Hải Sơn số tiền 20.000.000 đồng (BL: 13, 57-59, 167-171).

Lần 3: Vào một ngày trong tháng 2 năm 2020, sau lần trộm cắp thứ hai, H và H đi qua đường Bùi Thị Xuân, Phường 2, TP. ĐL thì thấy 01 xe máy hiệu Yamaha Exciter màu đen, biển số 49B1-772.43 của anh Nguyễn Đình Long đang dựng trước quán trà sữa không có người trông coi, H đi tới vị trí chiếc xe dùng vam phá khóa bẻ khóa lấy trộm xe, còn H đứng quan sát xung quanh để cảnh giới cho H. Sau khi lấy được xe cả hai mang xe về bãi giấu xe trong Hồ Tuyền Lâm cất giấu. Sau đó, H đưa xe cho người tên Tuấn (chưa rõ nhân thân, lai lịch) bán và cả hai chia nhau tiêu xài hết.

  • * Tang vật của vụ án không thu giữ được: 01 xe máy hiệu Yamaha Exciter màu đen, biển số 49B1-7724, số máy: G3D4E794776, số khung: 1010JY029340.
  • * Người bị hại: Anh Nguyễn Đình Long, sinh năm: 2000, nơi thường trú: Hẻm 19A Trần Phú, Phường 3, TP.ĐL, bị mất 01 xe máy hiệu Yamaha Exciter màu đen, biển số 49B1-772.43, số máy: G3D4E794776, số khung: 1010JY029340. Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự tHnh phố ĐL, kết luận chiếc xe này trị giá 43.000.000 đồng, anh Long yêu cầu được bồi thường 43.000.000 đồng. Tại bản án số 185/2020/HSST ngày 09/12/2020 của TAND tHnh phố ĐL ghi nhận sự tự nguyện bồi thường của Phạm Văn H và buộc H bồi thường cho anh Nguyễn Đình Long số tiền 43.000.000 đồng (BL: 19, 69, 167-171).

Đến ngày 24/02/2020, Phạm Văn H đã gọi điện thuê Phan Thanh Tuyên, sinh năm: 1990, nơi thường trú: Sơn Thọ, Thọ Sơn, Bù Đăng, Bình Phước qua ĐL chạy xe máy H và H trộm cắp được về Bình Phước. H và Tuyên thỏa thuận khi nào H lấy trộm được xe máy thì gọi điện cho Tuyên qua ĐL để chạy xe về kiếm chỗ tiêu thụ, mỗi chiếc xe Tuyên chạy cho H được H trả 1.500.000 đồng. Sau đó, H cùng H đi qua ĐL trước còn Tuyên đi qua sau. Khi đi tHnh phố ĐL, Phan Thanh Tuyên rủ thêm vợ là Nguyễn Ngọc Mỹ cùng đi chơi rồi Tuyên rủ thêm Cu An và Cu Em (không rõ nhân thân, lai lịch) là bạn bè quen biết ngoài xã hội của Tuyên cùng đi qua chạy xe thuê với Tuyên. Sau đó, H, H và Tuyên đã thực hiện thêm 03 vụ trộm cắp tài sản cụ thể như sau:

Lần 4: Vào khoảng trưa ngày 26/02/2020, H và H đi qua đường Trần Lê, Phường 4, TP. ĐL thì thấy 01 xe máy hiệu Honda Wave màu đen trắng, biển số: 76E1-555.6 của anh Lê Quốc Cường đang để bên lề đường trước nH số 20/A Trần Lê, Phường 4, TP. ĐL không có người trông coi, H đứng cảnh giới còn H đi tới dùng vam phá khóa bẻ khóa lấy trộm xe rồi cả hai mang xe đi về bãi giấu xe trong Hồ Tuyền Lâm, TP. ĐL cất giấu.

  • * Tang vật của vụ án thu giữ được: 01 xe máy hiệu Honda, Wave màu đen trắng, biển số 76E1-555.62, số máy: JA39E1208646, số khung: 3911KY342740.
  • * Người bị hại: Anh Lê Quốc Cường, sinh năm: 1997, nơi thường trú: Điền Hoa, Nghĩa Điền, Tư Nghĩa, Quảng Ngãi, bị mất 01 xe máy hiệu Honda, Wave màu đen trắng, biển số 76E1-555.62, số máy: JA39E1208646, số khung: 3911KY342740. Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự tHnh phố ĐL, kết luận chiếc xe này trị giá 18.000.000 đồng, anh Cường đã nhận lại chiếc xe này, hiện anh không yêu cầu bồi thường gì thêm (BL: 20, 61-62).

Lần 5: Sau lần trộm cắp thứ tư, H và H đi đến đường Phạm Ngũ Lão, Phường 3, TP ĐL thì thấy 01 xe máy hiệu Yamaha Exciter màu đỏ đen, biển số 49B1-857.4 của anh Nguyễn Trung Hiếu đang dựng bên lề đường, H đứng cảnh giới còn H đi tới dùng vam phá khóa bẻ khóa lấy trộm xe rồi mang về bãi giấu xe trong Hồ Tuyền Lâm cất giấu.

  • * Tang vật của vụ án thu giữ được: 01 xe máy hiệu Yamaha Exciter màu đỏ đen, biển số 49B1- 857.4, số máy: G3D4e877120, số khung: 1010KY110691.
  • * Người bị hại: Anh Nguyễn Trung Hiếu, sinh năm: 1997, nơi thường trú: 69 Xuân An, Phường 3, TP ĐL, bị mất 01 xe máy hiệu Yamaha Exciter màu đỏ đen, biển số 49B1-857.4, số máy: G3D4e877120, số khung: 1010KY110691. Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự tHnh phố ĐL kết luận, chiếc xe này trị giá 50.350.000 đồng, anh Hiếu đã nhận lại chiếc xe máy này nên anh không yêu cầu bồi thường gì thêm (BL: 20, 63-65).

Lần 6: Sau lần trộm cắp thứ năm, H và H đi qua đường Nguyễn Đình Chiểu, Phường 9, TP. ĐL thì thấy 01 xe máy hiệu Yamaha Exciter màu xanh, biển số 49B1- 460.8của anh Nguyễn Trung Hiếu đang dựng bên lề đường, H đứng cảnh giới còn H đi tới dùng vam phá khóa bẻ khóa lấy trộm chiếc xe rồi mang xe về bãi giấu xe trong Hồ Tuyền Lâm cất giấu.

  • * Tang vật của vụ án thu giữ được: bị mất 01 xe máy hiệu Yamaha Exciter màu xanh biển số: 49B1- 460.8, số máy: G3D4B169322, số khung: 0610FY156508.
  • * Người bị hại: Anh Nguyễn Trung Hiếu, sinh năm: 1995, nơi thường trú: D6 KQH Hoàng Diệu, Phường 5, TP ĐL, bị mất 01 xe máy hiệu Yamaha Exciter màu xanh biển số: 49B1- 460.8, số máy: G3D4B169322, số khung: 0610FY156508. Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự tHnh phố ĐL, kết luận chiếc xe này trị giá 31.500.000 đồng, anh Hiếu đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường gì thêm (BL: 20, 66-68).

Trong ngày 26/02/2020, sau khi H và H lấy trộm được ba xe mô tô nói trên mang xe về bãi giấu xe trong Hồ Tuyền Lâm cất giấu. Tại đây, Tuyên thay biển số giả vào các xe đã trộm cắp, sau đó các đối tượng chia nhau chạy 03 xe này về Bình Phước. Cụ thể, Tuyên điều khiển xe Exceiter màu đỏ chở Mỹ, Cu An đi xe Exceiter màu xanh, Cu Em đi xe Wave màu trắng còn H chở H đi xe Exceiter màu xanh. Khi đi đến Liên Nghĩa, Đức Trọng, cả nhóm dừng lại đợi Tuyên đổ xăng thì bị Cơ quan Công an kiểm tra, phát hiện và bắt giữ Tuyên cùng Mỹ.

  • * Tại kết luận giám định pháp y tâm thần học sau thời gian điều trị bắt buộc số 13/KLNN-VPYTW ngày 11/01/2022 của Viện Pháp y tâm thần Trung ương Biên Hòa đối với Trần Văn H, kết luận:
    • - Bị bệnh: Rối loạn cảm xúc lưỡng cực, hiện tại giai đoạn trầm cảm nặng có các triệu chứng loạn thần/Rối loạn nhân cách không biệt định (F31.5/F60.9-ICD.10).
    • - Hiện tại bệnh đã ổn định, không cần thiết điều trị bắt buộc nữa. Đương sự có đủ khả năng nhận thức và điều khiển Hnh vi để làm việc với cơ quan pháp luật (BL: 204).

Tại bản cáo trạng số 313/CT-VKSÐL - LĐ ngày 17/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tHnh phố ĐL truy tố bị cáo Trần Văn H về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Trần Văn H khai nhận, trong khoảng thời gian tháng 02 năm 2020, tại địa bàn tHnh phố ĐL, H cùng H và Tuyên đã thực hiện 06 lần trộm cắp 06 chiếc xe mô tô và mang bán lấy tiền tiêu xài cá nhân như cáo trạng truy tố là hoàn toàn chính xác, bị cáo không thắc mắc khiếu nại gì đối với cáo trạng truy tố và xin được giảm nhẹ hình phạt.

Sau phần luận tội, Đ diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Trần Văn H về tội “Trộm cắp tài sản” và đề nghị áp dụng điểm c, g khoản 2 Điều 173; điểm s, q khoản 1 Điều 51; điểm a, b, g khoản 1 Điều 52 và Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Trần Văn H từ 05 (năm) đến 06 (sáu) năm tù. Áp dụng Điều 56 của Bộ luật hình sự, tổng hợp với hình phạt 08 (tám) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” của Bản án số 26/2023/HSPT ngày 28/02/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh ĐL, buộc bị cáo H phải chấp Hnh chung cho cả hai bản án.

Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Đã được xem xét giải quyết tại Bản án số 185/2020/HSST ngày 09/12/2020 của Tòa án nhân dân tHnh phố ĐL nên không đề cập xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. [1] Về Hnh vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tHnh phố ĐL, tỉnh LĐ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tHnh phố ĐL, tỉnh LĐ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về Hnh vi, quyết định của Cơ quan tiến Hnh tố tụng, người tiến Hnh tố tụng. Do đó, các Hnh vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến Hnh tố tụng, người tiến Hnh tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
  2. [2] Về Hnh vi phạm tội của bị cáo Trần Văn H: Là người đang có nhiều tiền án về tội “Trộm cắp tài sản”, chưa được xóa án tích nhưng để có tiền tiêu xài cá nhân, trong tháng 02/2020, Trần Văn H đã cùng đồng phạm thực hiện trộm cắp 06 xe máy trên địa bàn tHnh phố ĐL, tỉnh LĐ, với tổng giá trị tài sản chiếm đoạt là 177.575.000đ (một trăm bảy mươi bảy ngàn năm bảy mươi lăm ngàn đồng).
  3. [3] Xét thấy, bị cáo Trần Văn H là người đã trưởng tHnh và có đầy đủ năng lực về trách nhiệm hình sự, bản thân đang có tiền án về tội trộm cắp tài sản nên càng biết rõ Hnh vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện nhằm thỏa mãn cho nhu cầu tiêu xài của cá nhân. Hnh vi của bị cáo Trần Văn H không chỉ xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ mà còn xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Căn cứ lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa, phù hợp với tài liệu chứng cứ đã thu thập trong quá trình điều tra vụ án, có đủ căn cứ kết luận Hnh vi của Trần Văn H đã phạm về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c, g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự như cáo trạng số 313/CT-VKS-ĐL ngày 17/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tHnh phố ĐL, tỉnh LĐ truy tố và kết luận của Kiểm sát viên tại phiên tòa là hoàn toàn có căn cứ và đúng pháp luật.
  4. [4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Trần Văn H tHnh khẩn khai báo về Hnh vi phạm tội của mình; tại thời điểm thực hiện Hnh vi phạm tội Trần Văn H bị hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển Hnh vi, nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s, q khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự là phù hợp.
  5. [5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Trần Văn H phạm tội thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm; không có nghề nghiệp ổn định, lấy việc trộm cắp tài sản của người khác làm nguồn sống chính, khi thực hiện Hnh trộm cắp tài sản rủ theo đồng phạm; phân công vai trò cụ thể của từng người trong nhóm, do vậy Hnh vi của H mang tính chất chuyên nghiệp, có tổ chức; đồng thời trong tháng 02/2020 H cùng đồng phạm thực hiện liên tiếp 06 lần trộm cắp xe máy, đây là các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự định khung theo điểm g khoản 2 Điều 173 và tình tiết tắng nặng trách nhiệm hình sự theo điểm a, b, g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
  6. [6] Trong vụ án này còn có Phạm Văn H và Phan Thanh Tuyên cùng với Trần Văn H thực hiện Hnh vi trộm cắp tài sản, đã được Tòa án nhân dân tHnh phố ĐL xét xử tại Bản án số 185/2020/HSST ngày 09/12/2020.
  7. [7] Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Không đề cập xem xét.
  8. [8] Về án phí: Buộc bị cáo H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Trần Văn H phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”.
    1. 1.1. Áp dụng điểm c, g khoản 2 Điều 173; điểm s, q khoản 1 Điều 51, điểm a, b, g khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Trần Văn H 05 (năm) năm tù.
    2. 1.2. Áp dụng Điều 56 của Bộ luật hình sự, tổng hợp hình phạt 08 (tám) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 26/2023/HSPT ngày 28/02/2023 của Toà án nhân dân tỉnh ĐL.
    3. Buộc bị cáo Trần Văn H phải chấp Hnh chung cho hai bản án là 13 (mười ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt, tạm giam 18/02/2022, được trừ thời gian đã bị tạm giam từ ngày 28/4/2020 đến 10/9/2020 và thời gian bắt buộc chữa bệnh từ ngày 11/9/2020 đến ngày 18/02/2022.

  2. 2. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án;

    Buộc bị cáo Trần Văn H phải chịu 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  3. 3. Quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo và người Đ diện hợp pháp của bị cáo được quyền làm đơn kháng cáo để yêu cầu xét xử theo thủ tục phúc thẩm./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh LĐ (02);
  • - Sở Tư pháp tỉnh LĐ;
  • - VKSND tp. ĐL;
  • - Công an tp. ĐL;
  • - Chi cục THADS tp. ĐL;
  • - Bị cáo và người Đ diện hợp pháp;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒ

(đã ký)

Nguyễn Thị Huyền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 276/2024/HS-ST ngày 12/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THNH PHỐ ĐL - TỈNH LĐ về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 276/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THNH PHỐ ĐL - TỈNH LĐ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: 1. Tuyên bố bị cáo Trần Văn H phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”. 1.1. Áp dụng điểm c, g khoản 2 Điều 173; điểm s, q khoản 1 Điều 51, điểm a, b, g khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Trần Văn H 05 (năm) năm tù. 1.2. Áp dụng Điều 56 của Bộ luật hình sự, tổng hợp hình phạt 08 (tám) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 26/2023/HSPT ngày 28/02/2023 của Toà án nhân dân tỉnh ĐL. Buộc bị cáo Trần Văn H phải chấp Hnh chung cho hai bản án là 13 (mười ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt, tạm giam 18/02/2022, được trừ thời gian đã bị tạm giam từ ngày 28/4/2020 đến 10/9/2020 và thời gian bắt buộc chữa bệnh từ ngày 11/9/2020 đến ngày 18/02/2022.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger