TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG Bản án số: 276/2024/HNGĐ-ST Ngày 26-9-2024 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Giang.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Cao Thị Hạ
Ông Nguyễn Nam Tuấn.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Hương Giang - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Đỗ Thu Hương - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 174/2024/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 6 năm 2024 về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 264/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 9 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị T; nơi đăng ký thường trú: Thôn K, xã B, huyện T, thành phố Hải Phòng; nơi ở hiện nay: G 4-chome 70 (A), Nhật Bản. Vắng mặt, có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Vũ Văn N; địa chỉ: Thôn K, xã B, huyện T, thành phố Hải Phòng. Vắng mặt, có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 28 tháng 5 năm 2024 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị T trình bày:
Chị và anh Vũ Văn N kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 24/02/2010 tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện T, thành phố Hải Phòng. Sau khi kết hôn, anh chị chung sống tại thôn K, xã B, huyện T, thành phố Hải Phòng; thời gian đầu chúng tôi chung sống rất hạnh phúc; sau đó phát sinh nhiều mâu thuẫn.
Năm 2018, chị T sang Nhật Bản làm việc, từ đó vợ chồng không có nhiều thời gian, điều kiện gần gũi, hàn gắn, chia sẻ với nhau về mặt tình cảm cũng như khó khăn trong cuộc sống và trong công việc. Nay, nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, tồn tại mâu thuẫn không thể hoá giải được, chị đề nghị được ly hôn với anh Vũ Văn N.
Về con chung: Chị và anh Vũ Văn N có 02 con chung là Vũ Quỳnh T1, sinh ngày 05/8/2010 và Vũ Văn K, sinh ngày 10/5/2016. Chị T đề nghị Toà án giao cháu Vũ Quỳnh T1 và cháu Vũ Văn K cho anh Vũ Văn N nuôi dưỡng. Khi ly hôn, anh N và chị T thống nhất chị T cấp dưỡng nuôi con 2.500.000 đồng/con/tháng kể từ tháng 9/2024 đến khi con thành niên.
Về tài sản chung: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết
Trong Bản tự khai, bị đơn là anh Vũ Văn N trình bày:
Anh N nhất trí với ý kiến của chị T về thời gian, địa điểm kết hôn. Về quan hệ hôn nhân: Khi sang Nhật Bản, chị T không chung thuỷ trong hôn nhân nên anh đồng ý ly hôn với chị T.
Về con chung: Giữa anh chị có 02 con chung là Vũ Quỳnh T1, sinh ngày 05 tháng 8 năm 2010 và Vũ Văn K, sinh ngày 10 tháng 5 năm 2016. Anh N đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung. Về cấp dưỡng nuôi con, chị T có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con với mức là 2.500.000 đồng/tháng/con kể từ tháng 9/2024 cho đến khi các con đủ 18 tuổi.
Về tài sản chung: Anh không yêu cầu Toà án giải quyết.
Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên toà:
Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên toà đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm nghị án. Các đương sự đã thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ của người tham gia tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị T và anh Vũ Văn N kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 24/02/2010 tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện T, thành phố Hải Phòng là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 8, Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình. Xét thấy quan hệ hôn nhân giữa chị T và anh N hiện mỗi người sống một nơi, không ai quan tâm đến ai, không còn yêu thương nhau, mục đích hôn nhân không đạt được, không có khả năng đoàn tụ. Vì vậy, yêu cầu của chị Nguyễn Thị T xin được ly hôn với anh Vũ Văn N là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật nên chấp nhận.
Về con chung: Chị và anh Vũ Văn N có 02 con chung là Vũ Quỳnh T1, sinh ngày 05/8/2010 và Vũ Văn K, sinh ngày 10/5/2016. Cháu T1 và cháu K hiện đang sinh sống cùng anh N; chị T ở nước ngoài không có điều kiện trực tiếp nuôi dưỡng con; cháu T1 và cháu K cũng có nguyện vọng được sống cùng với bố. Vì vậy, giao cháu Vũ Quỳnh T1, sinh ngày 05/8/2010 và Vũ Văn K, sinh ngày 10/5/2016 cho anh Vũ Văn N trực tiếp nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng nuôi con, Anh N1 và chị T thống nhất mức cấp dưỡng nuôi mỗi con là 2.500.000 đồng/tháng/con kể từ tháng 9/2024 đến khi các con đủ 18 tuổi.
Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu Toà án giải quyết nên không xét.
Về án phí: Chị Nguyễn Thị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
[1] Về tố tụng: Đây là vụ án dân sự về việc ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại thời điểm khởi kiện, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị T đang cư trú tại Gifuken Ogakishi A 4-chome 70 (A), Nhật Bản. Chị Nguyễn Thị T có đơn xin ly hôn gửi về Việt Nam (đơn đã được hợp thức hoá lãnh sự theo quy định của pháp luật). Vì vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39 và điểm d khoản 1 Điều 469 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về sự vắng mặt của các đương sự: Tại phiên toà, nguyên đơn và bị đơn vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại khoản 1 Điều 228 và khoản 1 Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị T và anh Vũ Văn N kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 24/02/2010 tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện T, thành phố Hải Phòng là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 8, Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình. Xét thấy quan hệ hôn nhân giữa chị T và anh N hiện mỗi người sống một nơi, không ai quan tâm đến ai, không còn yêu thương nhau, mục đích hôn nhân không đạt được, không có khả năng đoàn tụ. Vì vậy, yêu cầu của chị Nguyễn Thị T xin được ly hôn với anh Vũ Văn N là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật nên chấp nhận theo quy định tại Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
[4] Về con chung: Chị Nguyễn Thị T và anh Vũ Văn N có 02 con chung là Vũ Quỳnh T1, sinh ngày 05/8/2010 và Vũ Văn K, sinh ngày 10/5/2016. Cháu T1 và cháu K hiện đang sinh sống cùng anh N; chị T ở nước ngoài không có điều kiện trực tiếp nuôi dưỡng con; cháu T1 và cháu K cũng có nguyện vọng được sống cùng với bố. Vì vậy, giao cháu Vũ Quỳnh T1, sinh ngày 05/8/2010 và Vũ Văn K, sinh ngày 10/5/2016 cho anh Vũ Văn N trực tiếp nuôi dưỡng là có căn cứ.
Về cấp dưỡng nuôi con, Chị Nguyễn Thị T và anh Vũ Văn N thống nhất mức cấp dưỡng nuôi mỗi con là 2.500.000 đồng/tháng/con kể từ tháng 9/2024 cho đến khi các con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
[5] Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị T và anh Vũ Văn N không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.
[6] Về án phí: Chị Nguyễn Thị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm và án phí cấp dưỡng nuôi con định kỳ theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các điều 28, 37, 39, 228, 238, 469 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào Điều 9 và các điều 56, 58, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình;
Điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án,
X:
1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị T ly hôn anh Vũ Văn N.
2. Về con chung: Giao con chung Vũ Quỳnh T1, sinh ngày 05/8/2010 và Vũ Văn K, sinh ngày 10/5/2016 cho anh Vũ Văn N trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Nguyễn Thị T có trách nhiệm đóng góp cấp dưỡng nuôi con cho anh Vũ Văn N là 5.000.000 đồng/tháng (bằng chữ: Năm triệu đồng); mỗi con là 2.500.000 đồng/tháng (bằng chữ: Hai triệu năm trăm nghìn đồng) kể từ tháng 9/2024 cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
3. Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị T và anh Vũ Văn N không yêu cầu Toà án giải quyết nên không xem xét.
4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị T phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm và 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí cấp dưỡng nuôi con định kỳ. Chị Nguyễn Thị T đã nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) - tiền tạm ứng án phí theo biên lai số 0000449 ngày 14 tháng 6 năm 2024 tại Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng. Chị Nguyễn Thị T còn phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí cấp dưỡng nuôi con định kỳ.
5. Về quyền kháng cáo:
Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hồng Giang |
Bản án số 276/2024/HNGĐ-ST ngày 26/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 276/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
