|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 276/2024/HSST
Ngày: 04/6/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Tám
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Kim Chi
Bà Vương Thị Khánh Loan
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Nhung- Thư ký TAND Thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên tòa: Ông Bùi Văn Lý - Kiểm sát viên.
Hôm nay, ngày 04 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 280/2024/TLST-HS ngày 15 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 269/2024/QĐXXST-HS ngày 20/5/2024 đối với:
- Bị cáo: Bùi Công D; Sinh năm 2000 tại tỉnh Phú Yên; Tên gọi khác: Không;
Giới tính: Nam; Nơi đăng ký thường trú: khu phố T, phường X, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên; Nơi ở : số B, đường B, khu phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Lớp 08/12; Nghề nghiệp: Không; Họ tên cha: Bùi Công D1, sinh năm 1971 (còn sống); Họ tên mẹ: Huỳnh Thị Y, sinh năm 1970 (còn sống); Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất và chưa có vợ, con; Tiền án, Tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 22/7/2020, bị Toà án nhân dân thị xã Sông Cầu, tỉnh Phú Yên xử phạt 06 tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” quy định tại Điều 323 Bộ luật hình sự. Bị can đã chấp hành xong bản án ngày 25/12/2020;
Bị cáo bị bắt quả tang và bị tạm giữ ngày 05/12/2023, sau đó chuyển tạm giam cho đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 23 giờ ngày 04/12/2023, D điều khiển xe mô tô biển số 94B1-105.19 đến khu vực ngã tư T thuộc thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh mua của đối tượng tên S (không rõ lai lịch) 02 gói ma tuý tổng hợp (ma tuý đá) với giá 1.000.000đ (Một triệu đồng) mục đích để sử dụng. Sau đó, D cất giấu gói ma túy vừa mua được vào túi nhựa có ghi chữ ADIDAS NEO đeo trước ngực rồi đi về thành phố B tìm nơi sử dụng.
Đến khoảng 01 giờ 20 phút ngày 05/12/2023, Khi D đi đến trước nhà số A, đường L thuộc khu phố E, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai thì bị Công an phường T phát hiện bắt quả tang, lập hồ sơ chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B xử lý.
Vật chứng thu giữ:
- - 02 gói nilon được hàn kín bên trong có chứa chất trắng, đã được niêm phong có chữ ký của Bùi Công D và dấu mộc của Công an phường T.
- - 01 túi nhựa trong viền đen, có ghi chữ ADIDAS NEO.
- - 01 xe mô tô, hiệu Yamaha, màu đỏ đen, biển số 94B1-105.19. Qua điều tra xác định: Xe mô tô biển số 94B1-105.19 do ông Nguyễn Văn C (sinh năm 1960, nơi đăng ký thường trú ấp C, xã L, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu) đăng ký sở hữu. Ông C đã bán xe mô nêu trên cho ông Phạm Quốc Q (sinh năm 1968, nơi đăng ký thường trú 82/7 khu phố C, phường Q, thành phố B, tỉnh Đồng Nai). Ông Q cho D mượn xe mô tô nêu trên để sử dụng, không biết D dùng xe mô tô để thực hiện hành vi phạm tội, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã trả lại cho ông Phạm Quốc Q.
Tại Kết luận giám định số 2697/KL-KTHS ngày 11/12/2023 của Phòng K Công an tỉnh Đ đã kết luận:
- Mẫu chất màu trắng (mẫu M1) được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, khối lượng 1,4722 gam, loại methamphetamine.
Tại bản cáo trạng số 291/CT-VKSBH ngày 14/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân TP. Biên Hòa đã truy tố bị cáo Bùi Công Duy về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hoà giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Bùi Công D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Bùi Công D với mức án từ 02 năm tù đến 02 năm 06 tháng tù.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến gì về quyết định truy tố của Viện kiểm sát. Trong lời nói sau cùng, bị cáo nhận thức hành vi của mình là sai trái và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]Về hành vi bị truy tố, tội danh, các tình tiết liên quan đến việc quyết định hình phạt:
Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai nhận của bị cáo tại Cơ quan điều tra; vật chứng được thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử đủ cơ sở xác định: Khoảng 01 giờ 20 phút ngày 05/12/2023, tại trước nhà số A, đường L thuộc khu phố E, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, Bùi Công D có hành vi tàng trữ trái phép 1,4722 gam ma tuý, loại Methamphetamine, mục đích để sử dụng thì bị Công an phường T phát hiện bắt quả tang, lập hồ sơ chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B xử lý
Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa đã truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến chế độ quản lý của Nhà nước về sử dụng các chất ma túy, làm suy giảm sức khỏe con người, gián tiếp gây nên các loại tội phạm khác, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Bị cáo là người đã trưởng thành, có đầy đủ sức khỏe và năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ tác hại của ma tuý và việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện thể hiện sự coi thường pháp luật của bị cáo. Vì vậy, cần có hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nhằm giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s, khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, do đó, cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo để thể hiện chính sách khoan hồng của Nhà nước.
[3]. Về vật chứng vụ án:
Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- - Tịch thu tiêu hủy toàn bộ khối lượng ma túy còn lại sau khi giám định và 01 túi nhựa trong viền đen, có ghi chữ ADIDAS NEO do không còn giá trị sử dụng.
- - Đối với 01 xe mô tô, hiệu Yamaha, màu đỏ đen, biển số 94B1-105.19, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã trả lại cho chủ sở hữu là ông Phạm Quốc Q là đúng quy định pháp luật vì khi ông Q cho D mượn xe mô tô nêu trên để sử dụng thì ông không biết D dùng xe mô tô để thực hiện hành vi phạm tội.
[4]Về các vấn đề khác:
Đối với đối tượng tên S (chưa rõ lai lịch) có hành vi mua bán trái phép chất ma túy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã thông báo đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh để điều tra, xử lý theo thẩm quyền.
[5] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
[6]. Quan điểm và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 47 Bộ luật hình sự; Các Điều 106, 136, 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên bố bị cáo Bùi Công D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
Xử phạt bị cáo Bùi Công D 02 (hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 05/12/2023.
- Về vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy: toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định tại gói niêm phong số 2697/KLGĐ-PC09 ngày 11/12/2023 của Phòng K Công an tỉnh Đ; 01 túi nhựa trong viền đen, có ghi chữ ADIDAS NEO do không còn giá trị sử dụng.
(Theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 28 tháng 5 năm 2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai)
- Về án phí: Buộc bị cáo Bùi Công D phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Tám |
Bản án số 276/2024/HSST ngày 04/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 276/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bùi Công D phạm tôi tàng trữ trái phép chất ma túy
