| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 276/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 20-6-2024.
Vv: “Tranh chấp yêu cầu không công nhận quan hệ vợ chồng”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thanh Nhàn.
Các Hội thẩm nhân dân :
- Ông Vũ Ngọc Tiến;
- Bà Nguyễn Thị Tuyết Hồng.
Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Ngọc Phương – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diễm Hằng – Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 6 năm 2024, tại Trụ sở Toà án nhân dân Quận 10, số B đường T, Phường A, Quận A, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 221/2024/TLST-HNGĐ ngày 24/5/2024, về việc “Tranh chấp yêu cầu không công nhận quan hệ vợ chồng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 129/2024/QĐXXST-HNGĐ giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Lê Cao Tú U, sinh năm: 2001 (có đơn xin vắng mặt)
Địa chỉ: Số I Quốc lộ A, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bị đơn: Ông Trần Thanh C, sinh năm: 1977 (có đơn xin vắng mặt)
Địa chỉ: A T, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN :
Theo đơn khởi kiện ngày 07/5/2024, trong quá trình tố tụng và tại bản tự khai nguyên đơn bà Lê Cao Tú U trình bày:
Năm 2022, bà Lê Cao Tú U và ông Trần Thanh C quen biết nhau và tự nguyện chung sống như vợ chồng nhưng không đăng ký kết hôn. Tuy nhiên, ngay khi bà U có con thì giữa hai bên bắt đầu phát sinh mâu thuẫn về nên cũng không thể chung sống được với nhau. Nay bà U đã hết tình cảm với ông C nên muốn đề nghị Tòa án không công nhận quan hệ vợ chồng giữa hai bên.
Về con chung: Có 01 con chung tên Trần Linh Đ, sinh ngày 02/5/2024. Bà Lê Cao Tú U đồng ý giao con cho ông C trực tiếp nuôi dưỡng. Cấp dưỡng tự thỏa thuận.
Về tài sản chung: Bà Lê Cao Tú U khai không có
Về nợ chung: Bà Lê Cao Tú U khai không có.
Bị đơn ông Trần Thanh C nhất trí với lời trình bày của bà U về quan hệ hôn nhân và mâu thuẫn vợ chồng nên không bổ sung thêm lời khai.
Về con chung: Có 01 con chung tên Trần Linh Đ, sinh ngày 02/5/2024. ông C trực tiếp nuôi dưỡng con. Cấp dưỡng tự thỏa thuận.
Về tài sản chung: ông Trần Thanh C khai không có
Về nợ chung: ông Trần Thanh C khai không có.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 phát biểu ý kiến:
Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến thời điểm xét xử, thấy rằng Tòa án thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền. Tòa án đã tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng cho các đương sự.
Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm.
Trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn và bị đơn đã chấp hành theo đúng quy định của pháp luật, có nộp bản tự khai, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng có đơn xin vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ vào quy định pháp luật tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
Về nội dung vụ án: Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án cũng như lời trình bày các đương sự có cơ sở chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào lời khai của đương sự, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp: Căn cứ vào giấy khai sinh trẻ Trần Linh Đ có cơ sở xác định quan hệ hôn nhân giữa bà Lê Cao Tú U và ông Trần Thanh C là kết hôn trái pháp luật, nay bà Lê Cao Tú U yêu cầu không công nhận quan hệ vợ chồng là tranh chấp về hôn nhân gia đình theo quy định tại khoản 8 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án.
[2] Về thẩm quyền: Bị đơn ông Trần Thanh C hiện đang cư trú tại địa chỉ A T, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[3] Về tư cách tham gia tố tụng: Xét đơn xin xét xử vắng mặt của nguyên đơn bà Lê Cao Tú U và bị đơn ông Trần Thanh C là hợp lệ nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.
[4] Về nội dung:
[4.1] Xét yêu cầu không công nhận quan hệ vợ chồng của bà Lê Cao Tú U, Hội đồng xét xử xét thấy: Ông Trần Thanh C và bà Lê Cao Tú U chung sống với nhau như vợ chồng trên cơ sở tự nguyện từ năm 2022 nhưng không thực hiện việc đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Trong khoảng thời gian chung sống với nhau ông C và bà U có đủ điều kiện đăng ký kết hôn nhưng không thực hiện việc đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật là vi phạm Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Nay bà U yêu cầu Tòa án không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà với ông C là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4.2] Về con chung: Căn cứ giấy khai sinh con số 72, ngày 07 tháng 05 năm 2024 của Ủy ban nhân dân Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh có cơ sở xác định trẻ Trần Linh Đ sinh ngày 02/5/2024 là con chung của ông C và bà U. Tại đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án bà U tự nguyện đồng ý giao con cho ông C nuôi dưỡng vì bà không có thu nhập ổn định cũng như không đủ điều kiện nuôi con. Ông C cũng thống nhất việc nuôi con chung nên căn cứ tại khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định “con dưới 36 tháng tuổi được giao trực tiếp cho mẹ nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác”. Xét việc thỏa thuận nuôi con chung của hai bên là tự nguyện và không trái quy định pháp luật nên được chấp nhận. Về cấp dưỡng nuôi con hai bên tự thỏa thuận nên Tòa không xem xét giải quyết.
[4.3] Về tài sản chung: Các đương sự thống nhất khai không có nên không xem xét giải quyết.
[5] Về án phí: Bà Lê Cao Tú U phải chịu án phí hôn nhân gia đình theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ vào các Điều 81, 82, 83, 84, 107, 116 và Điều 117 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
- - Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 266, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- - Căn cứ Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 24 và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Xử: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn :
[1] Về quan hệ vợ chồng: Không công nhận quan hệ vợ chồng của bà Lê Cao Tú U và ông Trần Thanh C.
[2] Về con chung: Giao trẻ Trần Linh Đ, sinh ngày 02/5/2024 cho ông Trần Thanh C trực tiếp nuôi dưỡng. Hai bên tự thỏa thuận việc cấp dưỡng nuôi con.
Bà Lê Cao Tú U có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con mà không ai có quyền cản trở, nhưng không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con của người đang trực tiếp nuôi con.
Vì quyền lợi về mọi mặt của con, khi có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con hoặc hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên.
[3] Về tài sản chung và nợ chung: Không có
[4] Án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân gia đình: Bà Lê Cao Tú U chịu 300.000 (ba trăm ngàn) đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai số 0020221 ngày 23/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Lê Cao Tú U đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự
Các đương sự có thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày bản án được niêm yết; tống đạt hợp lệ./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thanh Nhàn |
Bản án số 276/2024/HNGĐ-ST ngày 20/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp yêu cầu không công nhận quan hệ vợ chồng
- Số bản án: 276/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp yêu cầu không công nhận quan hệ vợ chồng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu
