TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 276/2024/HS-ST
Ngày 19 - 9 - 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Viết Nam
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Hoàn
- Bà Hoàng Lệ Chi
Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Ngọc Linh, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Trần Trọng An, Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 281/2024/HSST ngày 26/8/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 298/2024/QĐXX-HS ngày 09 tháng 9 năm 2024, đối với bị cáo:
Trương N, sinh năm 2003 tại tỉnh Đắk Lắk; thường trú: Số E, T, tổ dân phố E, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; chỗ ở hiện nay: Số C, lô A, đường H, Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Phục vụ quán; trình độ học vấn: 12/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Trương N1, sinh năm 1967 và bà Nguyễn Thị N2, sinh năm 1972; bị cáo có 05 chị, em ruột, lớn nhất sinh năm 1997, nhỏ nhất sinh năm 2008; tiền án, tiền sự: không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 28/4/2024, đến ngày 10/9/2024 thì bị bắt tạm giam cho đến nay. Có mặt.
- Bị hại: Anh Ngô Văn Khải H, sinh năm 2002 (đã chết).
Người đại diện hợp pháp: Ông Ngô Văn M, sinh năm 1966 và bà Nguyễn Thị Minh L, sinh năm 1967; cùng thường trú: Tổ G, ấp Đ, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh. Ông M và bà L có mặt.
- Người làm chứng: Anh Hồ Trương Đức T, sinh năm 2002. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Trương N đã được cấp Giấy phép lái xe mô tô hạng A1 số [...], do Sở Giao thông vận tải tỉnh Đ cấp ngày 15/6/2022. Khoảng 12 giờ 50 phút, ngày 04/6/2023, Trương N điều khiển xe mô tô biển số 59T2 - 312.72 lưu thông trên đường T hướng từ đường V về đường N. Khi Trương N điều khiển xe mô tô đến đoạn đường thuộc khu phố T, phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương, N điều khiển xe mô tô đi bên phải theo chiều đi của mình rồi chuyển hướng rẽ trái vào đường L. Cùng lúc, anh Ngô Văn Khải H điều khiển xe mô tô biển số 70H1 - 174.67, phía sau chở anh Hồ Trương Đức T lưu thông cùng chiều phía sau. Do Trương N điều khiển xe mô tô chuyển hướng không chú ý quan sát nên phần đầu bên trái xe mô tô 59T2 - 312.72 do Trương N điều khiển va chạm phần phía trước bên phải đầu xe mô tô biển số 70H1 - 174.67 do anh Ngô Văn Khải H điều khiển, dẫn đến tai nạn giao thông.
Hậu quả: Anh Ngô Văn Khải H bị thương nặng và chết tại Bệnh viện Đ1, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh vào ngày 05/6/2024. Anh Hồ Trương Đức T bị thương tích nhẹ.
Tại Biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 04/6/2023 và Biên bản dựng lại hiện trường ngày 07/6/2023, thể hiện:
- + Ghi nhận việc đánh số thứ tự theo số tự nhiên vị trí các dấu vết, tang vật, phương tiện:
- - Xe mô tô biển số 59T2 - 312.72 (ký hiệu 1 trên sơ đồ hiện trường);
- - Xe mô tô biền số 70H1 - 174.67 (ký hiệu 2 trên sơ đồ hiện trường);
- - Vết cày xe mô tô biển số 59T2 - 312.72 (ký hiệu 3 trên sơ đồ hiện trường);
- - Vết cày xe mô tô biển số 70H1 - 174.67 (ký hiệu 4 trên sơ đồ hiện trường);
- - Trụ biển báo giao thông đầu dải phân cách (ký hiệu 5 trên sơ đô hiện trường);
- + Lấy mép đường bên phải đường T theo hướng từ đường V đi về hướng đường N làm mép chuẩn và trụ biển báo gia thông (ký hiệu 5 trên sơ đồ hiện trường) làm điểm mốc.
- + Quá trình khám nghiệm:
- - Xe mô tô biển số 59T2 - 312.72 (ký hiệu 1 trên sơ đồ hiện trường) sau tai nạn xe ngã nghiêng bên hông trái, đầu xe quay về hướng đường N, trục bánh trước cách mép chuẩn là 6m20, trục bánh sau cách mép chuẩn là 6m00. Xe ngã để lại một vết cày đứt khoảng của gác chân trước bên phải (ký hiệu 3 trên sơ đồ hiện trường) dài 8m00, đầu vết cày cách mép chuẩn là 4m50 và cách đầu dải phân cách là 3m50.
- - Xe mô tô biển số 70H1 - 174.67 (ký hiệu 2 trên sơ đồ hiện trường) sau tai nạn xe ngã nghiêng bên hông phải, đầu xe quay vào mép chuẩn, trục bánh trước cách mép chuẩn là 2m30 và cách góc ngã ba là 10m20, trục bánh sau cách mép chuẩn là 3m60, xe ngã để lại vết cày của gác chân trước bên trái (ký hiệu 4
- trên sơ đồ hiện trường) dài 7m70, đầu vết cày cách mép chuẩn là 3m60 và cách mép vạch sơn người đi bộ là 2m20.
- - Trục bánh sau xe mô tô biến số 59T2 - 312.72 cách trục bánh sau xe mô tô biển số 70H1 - 174.67 là 3m00.
- - Đầu vết cày xe mô tô biển số 70H1 - 174.67 cách điểm mốc là trụ biển báo giao thông (ký hiệu 5 trên sơ đồ hiện trường) là 03m60.
- + Trên trục đường Thánh Gióng theo hướng lưu thông của hai xe cách vị trí xảy ra tai nạn khoảng 30m có biển báo nguy hiểm, biển báo giao nhau với đường cùng cấp, biển báo người đi bộ qua đường và biển báo phụ dòng chữ chú ý quan sát.
- * Kết luận giám định tử thi số 458/KLGĐTT-PC09 ngày 09/6/2023 của Phòng K Công an tỉnh B, kết luận:
- Các kết quả chính:
- + Bầm tụ máu dưới da và trong cơ vùng thái dương phải, trái.
- + Tụ máu dưới màng cứng vùng thái dương hai bên, đỉnh khoảng 300gr máu.
- + Não phù, dập não vùng thái dương, trán trái.
- + Nứt xương sọ sàn tầng giữa phải vùng thái dương.
- + Nguyên nhân chết của Ngô Văn Khải H: Do chấn thương sọ não, bể xương hộp sọ, dập não.
- * Kết luận giám định số 268/KL-KTHS (CH) ngày 30/6/2023 của Phòng K Công an tỉnh B, kết luận:
- - Dấu vết va chạm giữa hai phương tiện là: Dấu vết trượt xước, bám dính chất màu đen (dạng sơn) ở mặt trước bên phải ốp nhựa đèn chiếu sáng trước, mặt trước bên phải ốp nhựa đầu xe mô tô biển số 70H1 - 174.67, có chiều từ trước về sau phù hợp với dấu vết trượt xước sơn màu đen ở đầu tay cầm trái xe mô tô biến số 59T2 - 312.72, có chiều từ sau về trước, từ trong ra ngoài.
- - Cơ chế hình thành dấu vết va chạm giữa hai phương tiện là: Phần phía trước bên phải đầu xe mô tô biến số 70H1 - 174.67 va chạm vào phần bên trái đầu xe mô tô biển số 59T2 - 312.72 theo hướng từ sau về trước, tạo ra dấu vết trên hai phương tiện.
- - Vị trí va chạm đầu tiên giữa hai phương tiện chiếu xuống mặt đường là: Khu vực phía trước đầu vết cày số 3 trên Sơ đồ hiện trường, thuộc phần đường bên phải của đường T theo hướng đi từ đường V đến đường N.
- * Kết luận giám định số 4048/KL-KTHS ngày 06/7/2023 của Phân viện Khoa học Hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh - Bộ C, kết luận: Mẫu máu của Ngô Văn Khải H được niêm phong gửi giám định không tìm thấy thành phần E và không tìm thấy thành phần các chất ma túy theo Nghị định 57/2022/NĐ-CP của Chính phủ ngày 25/8/2022.
- * Kết luận giám định số 7078/KL-KTHS ngày 07/12/2023 của Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh - Bộ C kết luận: Không đủ cơ sở xác định tốc độ của xe mô tô biển số 59T2 - 312.72 và xe mô tô biển số 70H1 - 174.67 khi xảy ra tai nạn giao thông.
* Kết quả kiểm tra nồng độ cồn qua hơi thở của Trương N vào lúc 14 giờ 56 phút, ngày 04/6/2023 là 0,000mg/L.
Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố D đã tiến hành điều tra, xác minh, làm rõ nguyên nhân xảy ra tai nạn giao thông là do bị cáo Trương N điều khiển xe mô tô chuyển hướng không chú ý quan sát nên phần đầu bên trái xe mô tô 59T2 - 312.72 do Trương N điều khiển va chạm phần phía trước bên phải đầu xe mô tô biển số 70H1 - 174.67 do anh Ngô Văn Khải H điều khiển, dẫn đến tai nạn giao thông. Hậu quả, Ngô Văn Khải H bị thương nặng và chết ngày 05/6/2023.
Ngày 28/4/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố D, tỉnh Bình Dương, khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Trương N về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” để điều tra cho đến nay.
Cáo trạng số: 287/CT-VKS-DA ngày 23 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Trương N về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo Điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điểm a khoản 1 Điều 260; Điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xử phạt bị cáo Trương N từ 15 (mười lăm) tháng đến 18 (mười tám) tháng tù.
Về xử lý vật chứng:
Đối với xe mô tô biển số 70H1 – 174.67 do bị hại Ngô Văn Khải H điều khiển, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định trả xe mô tô cho anh Ngô Văn M (cha ruột của Ngô Văn Khải H).
Đối với xe mô tô biển số 59T2 – 312.72 do Trương N điều khiển, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định trả xe mô tô cho Trương Nhứt .
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Trương N đã tác động gia đình bồi thường chi phí mai táng và tổn thất tinh thần cho gia đình bị hại tổng số tiền là 50.000.000 đồng. Gia đình bị hại đồng ý nhận số tiền hỗ trợ trên, đồng thời có đơn xin bãi nại nên không xem xét, giải quyết.
Đối với anh Hồ Trương Đức T chỉ bị xây xát nhẹ nên không yêu cầu bồi thường.
Trước khi Hội đồng xét xử nghị án, bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát về điều luật áp dụng, khung hình phạt, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đồng thời bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố D, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, các bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Căn cứ lời khai của bị cáo; người đại diện hợp pháp cho bị hại; biên bản khám nghiệm hiện trường và chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, xác định: Khoảng 12 giờ 50 phút, ngày 04/6/2023, Trương N điều khiển xe mô tô biển số 59T2 - 312.72 lưu thông trên đường T, hướng từ đường V về đường N. Khi Trương N điều khiển xe mô tô đến đoạn đường thuộc khu phố T, phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương, N điều khiển xe mô tô đi bên phải theo chiều đi rồi cho xe chuyển hướng rẽ trái vào đường L không chú ý quan sát. Cùng lúc, anh Ngô Văn Khải H điều khiển xe mô tô biển số 70H1 - 174.67, phía sau chở anh Hồ Trương Đức T lưu thông cùng chiều phía sau do Trương N điều khiển xe mô tô chuyển hướng không chú ý quan sát nên phần đầu bên trái xe mô tô 59T2 - 312.72 do Trương N điều khiển va chạm phần phía trước bên phải đầu xe mô tô biển số 70H1 - 174.67 do anh Ngô Văn Khải H điều khiển, dẫn đến tai nạn giao thông. Hậu quả, Ngô Văn Khải H bị thương nặng và chết ngày 05/6/2023.
[3] Như vậy, hành vi của Trương N đã vi phạm khoản 2 Điều 15 của Luật giao thông đường bộ năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2018), đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, quy định tại Điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Do đó, Cáo trạng số: 287/CT-VKS-DA ngày 23 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương và kết luận của Kiểm sát viên đề nghị truy tố bị cáo Trương N về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại Điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật; bị cáo hoàn toàn đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự.
[4] Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do bị cáo thực hiện là nghiêm trọng, trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe và tính mạng con người được pháp luật bảo vệ. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo với mức án tương xứng với tính chất mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho gia đình, xã hội và có tác dụng đấu tranh, phòng ngừa chung.
[5] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.
[6] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai báo và có thái độ ăn năn hối cải, bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho bị hại, bị hại có đơn xin bãi nại, gia đình bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn có xác nhận của chính quyền địa phương. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại Điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[7] Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân tốt thể hiện bị cáo chưa có tiền án, tiền sự và là người lao động nên cũng cần xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.
[8] Về hình phạt:
- - Về hình phạt chính: Xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Quá trình được áp dụng lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến khi bị bắt, bị cáo luôn chấp hành tốt chính sách pháp luật của Nhà nước và địa phương. Bị cáo có đủ điều kiện được hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự và Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo tạo điều kiện cho bị cáo tự cải tạo dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương nơi cư trú cũng không ảnh hưởng đến việc phòng chống tội phạm tại địa phương. Trả tự do tại phiên tòa cho bị cáo nếu bị cáo không bị tạm giam về tội phạm khác.
- - Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 “Người phạm tội còn có thể cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm”. Tuy nhiên, áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo cũng đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[9] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Trương N đã thỏa thuận bồi thường cho đại diện gia đình bị hại. Đại diện gia đình bị hại đồng ý nhận tiền và không yêu cầu bồi thường gì khác nên trách nhiệm dân sự không đặt ra.
[10] Xét đề nghị Viện kiểm sát về tội danh, điều luật áp dụng, khung hình phạt, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo là phù hợp. Đối với mức hình phạt đề nghị là không phù hợp nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.
[11] Án phí sơ thẩm: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Đ a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Trương N phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- - Áp dụng Điểm a khoản 1 Điều 260; Điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Khoản 3 Điều 328 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 02/2018/NĐ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao.
- Xử phạt bị cáo Trương N 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (hai) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Giao bị cáo về cho Ủy ban nhân dân Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
- Trường hợp bị cáo Trương N thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Điều 92 Luật Thi hành án Hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố tình vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Trả tự do tại phiên tòa cho bị cáo nếu bị cáo không bị tạm giam về tội phạm khác
- Về án phí sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Bị cáo Trương N phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo; người đại diện hợp pháp của bị hại có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Viết Nam |
Bản án số 276/2024/HS-ST ngày 19/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về hình sự (vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ)
- Số bản án: 276/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
