TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 276/2025/DS-ST Ngày: 09/6/2025 V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai Phương
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Huỳnh Hồng Hải
- Bà Trần Hoàng Ngọc Hà
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Lê Quế Chi, là Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Gấm - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh đã mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 787/2024/TLST-DS ngày 23 tháng 12 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 283/2025/QĐXXST-DS ngày 15 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Công ty T1 (Việt Nam); Địa chỉ: I P, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Bà Nguyễn Phước Quỳnh G - sinh năm 2001; địa chỉ liên hệ: P, tầng D, Tòa nhà số G T, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn (Giấy ủy quyền ngày 01/3/2025) (Xin vắng mặt).
- Bị đơn: Bà Bùi Lê Vi T – sinh năm 1986; Địa chỉ: A C, Phường G, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 29 tháng 8 năm 2024 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Công ty T1 (Việt Nam) (gọi tắt là Công ty) do người đại diện hợp pháp là bà Nguyễn Phước Quỳnh G trình bày:
Ngày 08/3/2023, khách hàng là bà Bùi Lê Vi T có ký với Công ty T1 (Việt Nam) Đề nghị vay vốn kiêm Hợp đồng tín dụng số 4380903, Công ty đã ký duyệt ngày 11/03/2023, nội dung cấp tín dụng cho bà T với khoản vay trị giá 24.340.200 đồng, lãi suất 50%/năm. Theo đó mỗi tháng bà T phải thanh toán cho Công ty số tiền 1.879.634 đồng trong kỳ hạn 31 tháng kể từ ngày 25/3/2023 đến ngày 25/9/2025. Sau khi ký kết, ngày 13/3/2023, Công ty đã giải ngân cho bà T theo đúng quy định.
Sau khi được giải ngân, bà T đã thanh toán 4.532.586 đồng. Tuy nhiên từ ngày 11/6/2023 thì bà T đã không thanh toán theo nghĩa vụ hợp đồng. Qua nhiều lần làm việc, gọi điện nhắc nhở nhưng bà T vẫn không có thiện chí trả nợ. Bà T đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015, khoản 2 Điều 91 Luật tổ chức tín dụng năm 2010, khoản 4 Điều 13 và khoản 5 Điều 14 Thông tư 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016.
Do đó, Công ty đã khởi kiện yêu cầu bà Bùi Lê Vi T phải trả cho Công ty T1 (Việt Nam) số tiền tạm tính đến ngày 05/4/2024 là 31.508.889 đồng (trong đó bao gồm nợ gốc 24.340.200 đồng, tiền lãi chưa thanh toán là 7.168.689 đồng) và trả lãi phát sinh từ ngày 06/4/2024 cho đến khi trả xong khoản vay nói trên.
Bị đơn bà Bùi Lê Vi T vắng mặt không lý do và không có ý kiến gì.
Tại phiên tòa:
Nguyên đơn do người đại diện theo ủy quyền là bà Nguyễn Phước Quỳnh G có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và giữ nguyên yêu cầu khởi kiện: Yêu cầu bà Bùi Lê Vi T phải trả cho Công ty số tiền tính đến ngày 09/6/2025 là 41.126.183 đồng, trong đó: nợ gốc: 24.340.200 đồng; lãi trong hạn: 16.785.983 đồng. Bà T có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 10/6/2025 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.
Bị đơn bà Bùi Lê Vi T vắng mặt không lý do.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát: Về tố tụng: Việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử là đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền, xác định đúng tư cách pháp lý của những người tham gia tố tụng, quan hệ pháp luật tranh chấp, sự vắng mặt của các đương sự. Về nội dung: Căn cứ tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời trình bày của đương sự, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về áp dụng pháp luật tố tụng:
[1.1] Về thẩm quyền giải quyết: Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự thì Công ty T1 (Việt Nam) có đơn khởi kiện tranh chấp hợp đồng tín dụng với bà Bùi Lê Vi T tại Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh là phù hợp quy định của pháp luật về thẩm quyền.
[1.2] Về sự có mặt của đương sự tại phiên tòa: Nguyên đơn do bà Nguyễn Phước Q Giao là người đại diện theo ủy quyền có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập hợp lệ bị đơn bà Bùi Lê Vi T đến trình bày ý kiến, tham gia phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải và tham gia phiên toà xét xử vụ án nhưng bị đơn vắng mặt không có lý do. Do đó căn cứ vào khoản 1 Điều 207, Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự Toà án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.
[2] Về áp dụng pháp luật nội dung:
[2.1] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử nhận thấy: Căn cứ Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 4380903 ký đề nghị ngày 08/3/2023, phê duyệt ngày 11/3/2023 giữa Công ty T1 (Việt Nam) và bà Bùi Lê Vi T (kèm theo Bản điều khoản và điều kiện cho vay) thì giữa nguyên đơn và bị đơn đã giao kết hợp đồng tín dụng. Căn cứ bảng sao kê tài khoản thể chi tiết gốc, lãi do nguyên đơn cung cấp thì bị đơn còn nợ nguyên đơn số tiền tính đến ngày 09/6/2025 là 41.126.183 đồng, trong đó: nợ gốc: 24.340.200 đồng; lãi trong hạn: 16.785.983 đồng. Do bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên nguyên đơn khởi kiện, bị đơn đã được Tòa án thông báo về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nhưng bị đơn không có ý kiến gì về yêu cầu khởi kiện và số tiền còn thiếu nên Hội đồng xét xử căn cứ vào lời trình bày của nguyên đơn cùng các chứng cứ có trong hồ sơ, căn cứ các Điều 4, 90, 91, 95 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 xác định bị đơn còn thiếu nguyên đơn số tiền 41.126.183 đồng. Ngoài số tiền trên, bị đơn còn phải thanh toán cho nguyên đơn tiền lãi phát sinh theo mức lãi suất thỏa thuận trong Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 4380903 ký đề nghị ngày 08/3/2023, phê duyệt ngày 11/3/2023 tính từ ngày 10/6/2025 cho đến khi trả hết nợ.
[2.2] Về thời hạn thanh toán: Do bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên nguyên đơn thụ thòi nợ trước hạn theo thỏa thuận trong Bản điều khoản và điều kiện cho vay, yêu cầu bị đơn thanh toán một lần khi bản án có hiệu lực pháp luật là phù hợp nên chấp nhận.
[3] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình về việc giải quyết vụ án là có cơ sở, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định. H lại tiền tạm ứng án phí cho nguyên đơn.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 144, Điều 147, khoản 1 Điều 207, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273, Điều 278, Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ Điều 4, Điều 90, Điều 91, Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010;
- Căn cứ vào Điều 26 Luật Thi hành án Dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014);
- Căn cứ vào khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty T1 (Việt Nam):
Bị đơn bà Bùi Lê Vi T có trách nhiệm trả cho Công ty T1 (Việt Nam) số tiền 41.126.183 (Bốn mươi mốt triệu, một trăm hai mươi sáu ngàn, một trăm tám mươi ba) đồng, (trong đó nợ gốc: 24.340.200 đồng; lãi trong hạn: 16.785.983 đồng) theo Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 4380903 ký đề nghị ngày 08/3/2023, phê duyệt ngày 11/3/2023 giữa Công ty T1 (Việt Nam) và bà Bùi Lê Vi T (kèm theo Bản điều khoản và điều kiện cho vay), trả một lần khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày 10/6/2025 cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận theo Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 4380903 ký đề nghị ngày 08/3/2023, phê duyệt ngày 11/3/2023 giữa Công ty T1 (Việt Nam) và bà Bùi Lê Vi T (kèm theo Bản điều khoản và điều kiện cho vay).
- Thi hành tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
- Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Bùi Lê Vi T phải chịu án phí sơ thẩm là 2.056.309 (Hai triệu, không trăm năm mươi sáu ngàn, ba trăm lẻ chín) đồng.
H lại cho Công ty T1 (Việt Nam) số tiền tạm ứng án phí là 787.722 đồng (Bảy trăm tám mươi bảy ngàn, bảy trăm hai mươi hai) đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí số 0002896 ngày 26/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Quyền kháng cáo: Đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án Dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014).
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Mai Phương |
Bản án số 276/2025/DS-ST ngày 09/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 276/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tranh chấp hợp đồng tín dụng