Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN SÔNG MÃ

TỈNH SN LA

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 276/2024/HSST

Ngày 28 - 9 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ, TỈNH SN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử S thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lô Văn Long

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lò Văn Viễn; ông Lò Văn Thôn

- Thư ký phiên toà: Bà Lý Thị Thùy Linh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã tham gia phiên toà: Ông Sộng Nỏ Ly - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 9 năm 2024 tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sn La, xét xử S thẩm công khai vụ án hình sự S thẩm thụ lý số: 279/2024/HSST ngày 30 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 284/2024/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nông Văn T, sinh năm 1984, tại huyện Sông M, tỉnh Sn La;

Nơi cư trú: Bản L, xã Mường L, huyện Sốp Cộp, tỉnh Sn La;

Nơi ở hiện tại: Bản L, xã Chiềng Sn, huyện Sông Mã, tỉnh Sn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ học vấn: 02/12; dân tộc: Thái; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt nam; con ông Nông Văn Ph và bà Tòng Thị V; bị cáo có vợ là Quàng Thị Th và 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/6/2024 cho đến nay; có mặt.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Chị Quàng Thị Th, sinh năm 1981; nơi cư trú: Bản L, xã Mường L, huyện Sốp C, tỉnh Sn La, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ S vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 18 giờ 00 phút ngày 01/6/2024 tổ công tác Công an xã Chiềng S, huyện Sông Mã làm nhiệm vụ phòng chống ma tuý tại bản Mâm, xã Chiềng S, huyện Sông Mã phát hiện một người đàn ông điều khiển xe mô tô hướng từ bản Ten Ư về bản Mâm, xã Chiềng S có biểu hiện nghi vấn về tội phạm ma tuý nên đã yêu cầu dừng lại để kiểm tra hành chính. Khi đối tượng dừng xe lại, khai nhận tên là Nông Văn T, sinh năm 1984 hiện đang ở bản L, xã Chiềng S, huyện Sông Mã. Qua làm việc phát hiện bên trong túi áo bên phải đang mặc của T có một gói nilon màu trắng, bên trong chứa một mảnh viên nén màu hồng và một ít chất bột màu trắng (T khai nhận là Hồng phiến và Heroine). Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản, bắt người phạm tội quả tang, thu giữ và niêm phong vật chứng nghi là ma tuý và tạm giữ 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave RSX biển kiểm soát 26F1 - 074.22.

Ngày 02/6/2024 tại Cơ quan CSĐT Công an huyện Sông Mã, Hội đồng bóc mở niêm phong đã tiến hành cân tịnh, xác định khối lượng và trích mẫu giám định, kết quả:

  • - Mảnh viên nén màu hồng có khối lượng là 0,03 gam đã sử dụng toàn bộ để làm mẫu gửi giám định ký hiệu T1;
  • - Số bột màu trắng có khối lượng là 0,15 gam đã sử dụng toàn bộ làm mẫu gửi giám định ký hiệu T2.

Tại bản kết luận giám định số 1209/KL ngày 06/6/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sn La, kết luận:

  • - Mẫu ký hiệu T1 gửi giám định là ma tuý; loại Methamphetamine; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,03 gam.
  • - Mẫu ký hiệu T2 gửi giám định là ma tuý, loại Heroine (Heroin), có tên khoa học là Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma tuý và tiền chất; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,15 gam.
  • - Tổng khối lượng ma tuý thu giữ là 0,03 gam; loại Methamphetamine; 0,15 gam; loại Heroine (Heroin), có tên khoa học là Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma tuý và tiền chất.

Quá trình điều tra bị cáo Nông Văn T khai nhận hành vi phạm tội như sau: Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 01/6/2024 T đem theo số tiền 50.000 đồng (là tiền do T lao động tiết kiệm mà có) rồi điều khiển xe mô tô của gia đình một mình đi từ bản L đến bản Ten U, xã Chiềng S, huyện Sông Mã để tìm mua ma tuý về sử dụng. Khi lên đến bản Ten Ư, T gặp một người đàn ông dân tộc Mông không rõ danh tính đang ngồi ở ven đường nên dừng xe lại và hỏi mua được một viên Hồng phiến và một ít Heroine được gói bằng mảnh nilon màu trắng với số tiền 50.000 đồng từ người đàn ông này. Mua được ma tuý, T đem vào bụi cây ven đường trích ra mỗi loại ma tuý một ít để sử dụng bằng hình thức đốt hít, sử dụng ma tuý xong T gói phần còn lại bằng mảnh nilon ban đầu rồi cho gói ma tuý vào túi áo ngực bên phải đang mặc và điều khiển xe mô tô đi về. Khi T về đến bản Mâm, xã Chiềng S, huyện Sông Mã thì gặp tổ công tác Công an xã Chiềng S, huyện Sông Mã làm nhiệm vụ kiểm tra, phát hiện bắt quả tang và thu giữ vật chứng, tài sản như đã nêu.

Cáo trạng số 225/CT-VKSSM ngày 29 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã đã truy tố ra trước Toà án nhân dân huyện Sông Mã để xét xử bị cáo Nông Văn T về tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Nông Văn T đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật viện dẫn áp dụng như nội dung bản Cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Tuyên bố bị cáo Nông Văn T phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
  • Xử phạt bị cáo Nông Văn T từ 01 năm 04 tháng đến 01 năm 08 tháng tù.
  • Đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Vật chứng của vụ án: Áp dụng điểm c khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Đề nghị HĐXX:

  • - Tịch thu để tiêu hủy 01 túi nilon màu xanh; 01 vỏ phong bì thư niêm phong vật chứng ban đầu đã bóc mở.
  • - Trả lại cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Chị Quàng Thị Th 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại Wave RSX, màu đỏ -đen, biển kiểm soát 26F1-074.22.

Về án phí: Đề nghị miễm án phí hình sự S thẩm cho bị cáo theo quy định.

Bị cáo Nông Văn T không có ý kiến gì đối đáp với lời luận tội của Kiểm sát viên, khi được nói lời sau cùng, bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Chị Quàng Thị Th đề nghị xin được trả lại chiếc xe mô tô.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra và kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cở sở xem xét đầy đủ và toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo, ý kiến của người liên quan, các tài liệu khác có trong hồ S vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ S vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định của cơ quan, người tiến hành tố tụng: Cơ quan điều tra Công an huyện Sông Mã, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh và điều luật áp dụng: Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra; Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Vật chứng thu giữ trong vụ án; Kết luận giám định và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ S vụ án, thể hiện: Ngày 01/6/2024 bị cáo Nông Văn T đã có hành vi tàng trữ 0,03 gam ma túy, loại Methamphetamine và 0,15 gam ma túy, loại Heroine. Tổng khối lượng của 02 chất ma túy là 0,18 gam, mục đích để sử dụng thì bị phát hiện bắt giữ.

Tại phiên toà bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi, vẫn giữ nguyên lời khai như đã khai tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Sông Mã, không thay đổi, bổ sung thêm nội dung gì làm thay đổi nội dung của vụ án và hoàn toàn nhất trí với nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã. Bị cáo khẳng định việc khai báo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa là hoàn toàn tự nguyện và đúng với sự việc đã thực hiện. Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã truy tố bị cáo về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự; phát biểu luận tội của của Kiểm sát viên tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị mức xử phạt tù giam đối với bị cáo về tội danh nêu trên là phù hợp, có căn cứ, đúng người, đúng pháp luật.

Từ những căn cứ nêu trên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hành vi mà bị cáo Nông Văn T thực hiện đã phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự, có khung hình phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

[3] Về tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo nhận thức được hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy của mình là vi phạm điều cấm của pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện, thể hiện sự coi thường pháp luật, vi phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy và gây mất trật tự trị an xã hội tại địa phương nên cần xử lý nghiêm.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, cần cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Về hình phạt chính: Căn cứ tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo; khối lượng ma túy bị cáo tàng trữ nhằm mục đích sử dụng; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; xét thấy cần áp dụng hình phạt tù giam đối với bị cáo và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội trong một thời gian nhất định nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội cũng như công tác đấu tranh phòng ngừa tội phạm.

[6] Về hình phạt bổ sung là phạt tiền: Hội đồng xét xử thấy bị cáo không có tài sản, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[7] Về các vấn đề có liên quan: Đối với người đàn ông dân tộc Mông không rõ tên tuổi và địa chỉ là người đã bán ma tuý cho bị cáo tại bản Ten Ư, xã Chiềng S, Sông Mã vào ngày 01/6/2024. Do không xác định được họ tên đầy đủ và địa chỉ nên không có căn cứ để xử lý trong vụ án này.

[8] Vật chứng của vụ án: Đối với 01 túi nilon màu trắng; 01 vỏ phong bì thư niêm phong vật chứng ban đầu đã bóc mở là vật không có giá trị sử dụng, nên cần tịch thu để tiêu hủy.

Đối với 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại Wave RSX, màu đỏ -đen, biển kiểm soát 26F1-074.22, tạm giữ của bị cáo Nông Văn T khi bị bắt quả tang. Quá trình điều tra xác định xe có đăng ký mang tên Nông Văn T. Xe không có trong cơ sở dữ liệu vật chứng. Xe là tài sản chung của vợ chồng bị cáo. Ngày 01/6/2024 bị cáo T điều khiển xe mô tô đi mua ma tuý thì chị Quàng Thị Th không biết. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Chị Quàng Thị Th đề nghị xin được trả lại chiếc xe mô tô, nên cần trả lại cho chị Quàng Thị Th chiếc xe mô tô nêu trên.

[9] Về án phí: Bị cáo là người dân tộc, sống ở vùng có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn, nên được xem xét miễn án phí hình sự S thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh và hình phạt:
  2. Căn cứ vào điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

    • - Tuyên bố bị cáo Nông Văn T phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
    • Xử phạt bị cáo Nông Văn T 01 (một) năm 04 (bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 02/6/2024.
    • - Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
  3. Về vật chứng:
  4. Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

    Tịch thu để tiêu hủy 01 túi nilon màu trắng; 01 vỏ phong bì thư niêm phong vật chứng ban đầu đã bóc mở;

    (các vật chứng được đựng trong một phong bì thư do Bưu điện Việt Nam phát hành được niêm phong, giấy dán niêm phong có mã số 0005549).

    Trả lại cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Chị Quàng Thị Th 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại Wave RSX, màu đỏ -đen, biển kiểm soát 26F1-074.22

    Theo Quyết định chuyển vật chứng số: 207/QĐ-VKS ngày 26/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã và Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản lập hồi 11 giờ 15 phút ngày 30 tháng 8 năm 2024 giữa Công an huyện Sông Mã và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sông Mã.

  5. Về án phí:
  6. Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ Ban Thường Vụ Quốc hội. Bị cáo Nông Văn T được miễn nộp án phí hình sự S thẩm.

  7. Về quyền kháng cáo:
  8. Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 28/9/2024).

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - VKS huyện Sông Mã;
  • - Trại giam;
  • - TAND tỉnh Sn La;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Sn La;
  • - THAHS;
  • - CCTHADS huyện Sông Mã;
  • - Người CQLNVLQ;
  • - Lưu: Hồ S vụ án, án văn.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ S THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Lô Văn Long

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 276/2024/HSST ngày 28/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ, TỈNH SN LA về tàng trữ trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 276/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ, TỈNH SN LA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: BA HSST
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger