Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN SÓC SƠN

T.P HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 275/2023/HS-ST

Ngày: 26/12/2023.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN - THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Như Ý;

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Duy Tuyên;

Bà Vương Bích Ngọc;

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Vân Anh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn tham gia phiên tòa:

Ông Thiều Văn Thịnh - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 12 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 277/2023/TLST-HS ngày 28 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 173/2023/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 11 năm 2023 đối với các bị cáo:

1. Hoàng Đức N, sinh năm 2003, tại Hà Nội;

Nơi cư trú: Thôn T, xã M, huyện S, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: lớp 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; Bố: Không xác định; Mẹ: Bà Hoàng Thị L, sinh năm 1972; Vợ: Tạ Thị T, sinh năm 2004, con: Có 01 con sinh năm 2023; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân:Không; Tạm giữ, tạm giam: Không; Hiện đang bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt tại phiên tòa.

2. Tạ Thị T1, sinh năm 2001, tại Hà Nội.

Nơi cư trú: Thôn T, xã H, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: lớp 11/12; dân tộc: kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Tạ Văn D, sinh năm 1980; con Bà:Phạm Thị L1, sinh năm 1982; Chồng: Phạm Văn T2, sinh năm 1997, con:Có 01 con sinh năm 2018; Tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Không; Tạm giữ, tạm giam: Không; hiện đang áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt tại phiên tòa.

Người bị hại: Ông Dương Văn T3, sinh năm 1969, Nơi cư trú: Thôn T, xã M, huyện S, thành phố Hà Nội. Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 05/04/2023, do bức xúc về việc tranh chấp đất đai giữa ông Dương Văn T3 với bà Tạ Thị G, sinh năm 1943 (mẹ vợ của ông T3) nên Hoàng Đức N dùng điện thoại chụp ảnh, quay video ông T3. Sau đó, N đăng 02 video và 01 hình ảnh của ông T3 lên tài khoản Facebook của N tên Hoàng Đức N ở chế độ công khai với nội dung “Cuộc đời sai rành rành ra treen đời có 1 con rể đi tranh chấp, cướp đất nhà mẹ vợ chửi bới um sùm ăn hết cứt con cứt cháu đem đơn đi kiện mẹ vợ năm nay cụng 80t rồi, nói năng bậy bại chửi bới xong bảo mẹ vợ về ngủ đi nghĩ nhiều vào cho nhanh chết để còn cướp. Sống trên đời phải đểđức cho con cháu. Ăn quả nhớ kẻ trồng cây. Có bố mẹ mí có ta. Có bố mẹ vợ mí có vợ ta. Hãy sống đúng với phận làm rể phận làm dâu”. Bài đăng này có 258 lượt biểu hiện cảm xúc tương tác, 213 bình luận và 58 lượt chia sẻ. Trong đó đã xác định được: Tạ Thị T1 đã chia sẻ lại toàn bộ bài viết của N lên tài khoản Facebook của T1 là “Tạ Thủy” ở chế độ công khai với dòng trạng thái “Tao sợ quá cm ạ)). Con rể này thì tôi vãi cả nón haaahhaha. Mn chia sẻ để cho em gái T với em rể T có đất xây nhà còn làm ăn đi))” đồng thời T1 tải 02 video của Ngọc đ rồi đăng lên tài khoản Tiktok của T1 tên @thuynhim1510 với nội dung “Cuộc đời sai rành rành ra treen đời có 1 con rể đi tranh chấp, cướp đất nhà mẹ vợ chửi bới um sùm ăn hết cứt con cứt cháu đem đơn đi kiện mẹ vợ năm nay cụng 80t rồi, nói năng bậy bại chửi bới xong bảo mẹ vợ về ngủ đi nghĩ nhiều vào cho nhanh chết để còn cướp. Sống trên đời phải đểđức cho con cháu. Ăn quả nhớ kẻ trồng cây. Có bố mẹ mí có ta. Có bố mẹ vợ mí có vợ ta. Hãy sống đúng với phận làm rể phận làm dâu". Ngoài ra, T1 đã bình luận nhiều lần vào bài viết của N với nội dung xúc phạm danh dự của ông T3. 02 video T1 đăng trên tiktok xác định một video có 16 lượt tương tác, một video có 12 lượt tương tác bằng hình thức thả tim.

Quá trình điều tra xác định Tạ Văn H, sinh 1966, trú tại T, xã M, huyện S, Hà Nội đã chia sẻ bài viết của N lên tài khoản Facebook "Ta Huong”. Tạ Thị T, sinh năm 2004, trú tại thôn T, xã M, huyện S, Hà Nội (vợ của N) đã chia sẻ bài viết của N lên nhóm “MINH TRÍ SÓC SƠN & TIN TỨC 24H” và bình luận vào bài viết của N.

Ngoài ra, nhiều tài khoản Facbook khác như: Hoa Hồng, Bảo T4, T, Dương P, Nguyễn C, Nguyễn Ngọc T5, T2, T6, Duong Van C1 đã chia sẻ bài viết của N. Ngày 17/10/2023, Phòng An ninh mạng và PCTP sử dụng công nghệ cao – Công an thành phố H đã kiểm tra, xác minh xác định: Tại thời điểm kiểm tra các tài khoản Facebook trên vẫn hoạt động nhưng không thu được thông tin liên quan.

Ngày 12/04/2023, ông T3 thuê xe ô tô đổ cát vào khu đất tranh chấp với bà G nên N tiếp tục dùng điện thoại Iphone X quay video, chụp ảnh ông T3. Đến ngày 13/04/2023, N sử dụng tài khoản facebook Hoàng Đức N đăng 02 video và 03 hình ảnh ông T3 ở chế độ công khai với nội dung “Lại là đảng viên #Dương văn T3 làm việc tại UBND xã M với sự góp của con gái Tên M cùng một bộ tham mưu...dê đã bàn bạc nhau vồ vập công kích đổ cát vào cổng nhà Tôi gây cản trở công tác cuar đội thợ xây, xây ức chế cho nhà tôi,#Dương Văn T7 có nói mua thêm gạch để kín cổng nhà mình, và có nói đổ nó chết bao tiền tao gửi. Vậy những người trong đảng và nhà nước cho tôi xin hỏi mạng người rẻ vậy sao? Và đảng làm ba cái trò đấy mà vẫn kết nạp đảng được à??? Như cụng phải xin cảm ơn vì lòng tốt gọi gạch với cát hộ”. Bài viết N đăng lần có 166 lượt biểu hiện cảm xúc tương tác, 101 lượt bình luận, 22 lượt chia sẻ.

Quá trình điều tra xác định, hiện nay ông T7 là Chi uỷ viên, Tổ trưởng tố Đảng 2, Đảng viên Đ đang sinh hoạt tại Chi bộ thôn T, xã M; Giữa bà Tạ Thị G và ông Dương Văn T3 có mâu thuẫn trong việc tranh giành đất đai. Ngày 25/5/2023, Toà án nhân dân huyện Sóc Sơn nhận được đơn khởi kiện của bà Tạ Thị G, tuy nhiên đến ngày 09/6/2023, bà Tạ Thị G đã rút đơn khởi kiện nên Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn đã ra Thông báo trả lại đơn khởi kiện.

Vật chứng vụ án: Cơ quan điều tra đã tạm giữ 01 điện thoại di động Iphone X, màu trắng, 64G của N; Đối với chiếc điện thoại Oppo A54, màu xanh của ông Tạ Văn H, ngày 16/11/2023, Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc điện thoại trên cho ông H. Đối với chiếc điện thoại Iphone 11 Promax của T1, sau khi xảy ra vụ việc T1 đã bán lại cho một người không quen biết nên không tạm giữ được.

Về dân sự: Ông Dương Văn T3 không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường.

Bản cáo trạng số 252/CT-VKS ngày 20/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội truy tố bị cáo: Hoàng Đức N về tội: “Làm nhục người khác” theo quy định tại điểm a, e khoản 2 Điều 155 Bộ luật hình sự; Truy tố bị cáo Tạ Thị T1 về tội: “Làm nhục người khác” theo quy định tại điểm e khoản 2 Điều 155 Bộ luật hình sự;

Tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Các bị cáo đều nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Người bị hại ông Dương Văn T3 vắng mặt tại phiên tòa có lời khai:

Ông và Hoàng Đức N có mối quan hệ họ hàng với nhau, còn ông và Tạ Thị T1 không có mối quan hệ hay quen biết gì. Ngày 05/4/2023, ông thấy trên tài khoản mạng xã hội facebook của Hoàng Đức N có đăng tải hình ảnh cá nhân, video của ông và bài viết với nội dung: “tranh cướp đất lâm nghiệp của bố mẹ vợ”. Đồng thời kêu gọi mọi người chia sẻ trên mạng xã hội. Đây là thông tin hoàn toàn sai sự thật nói về ông. Cùng ngày trên trang cá nhân mạng xã hội facebook của Tạ Thị T là vợ của Hoàng Đức N và Tạ Văn H là bác rể của N chia sẻ và bình luận trên mạng xã hội. Đồng thời Tạ Thị T1 là chị gái của vợ N có đăng tải video và bình luận trên mạng xã hội tictok cũng đưa ra những lời bình luận bôi xấu về ông. Tất cả những nội dung mà N và T1 đăng tải là không đúng sự thật, có hành vi lôi kéo, chia sẻ và kêu gọi bôi nhọ danh dự, nhân phẩm, uy tín của ông. Về dân sự, đến nay ông không có yêu cầu gì đối với các bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố sau khi phân tích nội dung, tính chất vụ án cùng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo về tội danh như Cáo trạng đã nêu. Đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Hoàng Đức N, Tạ Thị T1 phạm tội: “Làm nhục người khác”

Áp dụng điểm a, e khoản 2 Điều 155; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 65 Bộ luật hình sự.

- Xử phạt: Hoàng Đức N mức án từ 09 đến 12 tháng tù, cho hưởng án treo; thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng kể từ ngày tuyên án.

Áp dụng điểm e khoản 2 Điều 155; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 65 Bộ luật hình sự.

- Xử phạt Tạ Thị T1 mức án từ 06 đến 09 tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng kể từ ngày tuyên án.

Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự. Điều 106, Điều 135; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.

Về dân sự: Không xem xét giải quyết.

Về vật chứng: Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động Iphone X, màu trắng, 64 G của N.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện S, thành phố Hà Nội, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Qúa trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội: Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản thu giữ vật chứng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Do có mâu thuẫn về tranh chấp đất đai giữa ông Dương Văn T3 và bà Tạ Thị G nên ngày 05/4/2023 và ngày 13/4/2023, Hoàng Đức N (cháu ngoại bà G) đã sử dụng ảnh, video do mình quay, chụp để đăng bài viết với nội dung: “Cuộc đời sai rành rành ra treen đời có 1 con rể đi tranh chấp, cướp đất nhà mẹ vợ chửi bới um sùm ăn hết cứt con cứt cháu đem đơn đi kiện mẹ vợ năm nay cụng 80t rồi, nói năng bậy bại chửi bới xong bảo mẹ vợ về ngủ đi nghĩ nhiều vào cho nhanh chết để còn cướp. Sống trên đời phải đểđức cho con cháu. Ăn quả nhớ kẻ trồng cây. Có bố mẹ mí có ta. Có bố mẹ vợ mí có vợ ta. Hãy sống đúng với phận làm rể phận làm dâu”. “Lại là đảng viên #Dương văn T3 làm việc tại UBND xã M với sự góp của con gái Tên M cùng một bộ tham mưu...dê đã bàn bạc nhau vồ vập công kích đổ cát vào cổng nhà Tôi gây cản trở công tác cuar đội thợ xây, xây ức chế cho nhà tôi,#Dương Văn T7 có nói mua thêm gạch để kín cổng nhà mình, và có nói đổ nó chết bao tiền tao gửi. Vậy những người trong đảng và nhà nước cho tôi xin hỏi mạng người rẻ vậy sao? Và đảng làm ba cái trò đấy mà vẫn kết nạp đảng được à??? Như cụng phải xin cảm ơn vì lòng tốt gọi gạch với cát hộ”, kèm video, hình ảnh cá nhân của ông T7 lên Facebook Hoàng Đức N ở chế độ công khai. Sau đó, Tạ Thị T1 đã tải bài viết, hình ảnh, video từ Facebook của Hoàng Đức N rồi đăng tải, chia sẻ, bình luận kêu gọi, kích động người khác chia sẻ bài viết của N trên tài khoản Facebook Tạ T1 và tài khoản Ticktok @Thuynhim1510. Các bài viết của N và T1 được nhiều tài khoản Facebook, T8 tương tác, chia sẻ, bình luận. Hành vi này của Hoàng Đức N và Tạ Thị T1 đã xúc phạm nghiêm trọng đến danh dự, nhân phẩm của ông T7, đủ yếu tố cấu thành tội: “Làm nhục người khác” được quy định tại điểm e khoản 2 Điều 155 Bộ luật hình sự với tình tiết định khung là: “Sử dụng mạng máy tính hoặc mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội”. Bị cáo N thực hiện hành vi phạm tội 02 lần vào các ngày 05/4/2023 và 12/4/2023, do đó hành vi của bị cáo N còn cấu thành tội: “Làm nhục người khác” với tình tiết định khung là: “Phạm tội nhiều lần” được định tại điểm a khoản 2 Điều 155 Bộ luật hình sự.

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn truy tố bị cáo Hoàng Đức N về tội: “Làm nhục người khác” theo quy định tại điểm a, e khoản 2 Điều 155 Bộ luật hình sự; truy tố bị cáo Tạ Thị T1 về tội: “Làm nhục người khác” theo quy định tại điểm e khoản 2 Điều 155 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất của vụ án: Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm của người khác được pháp luật bảo vệ. Vụ án làm cho tình hình xã hội thêm phức tạp. Vì vậy việc đưa các bị cáo ra xét xử công khai tại phiên tòa hôm nay cần có một hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo là rất cần thiết để giáo dục, cải tạo các bị cáo và góp phần đấu tranh phòng ngừa chung. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt cũng cần xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của từng bị cáo.

[4] Xét vai trò của các bị cáo trong vụ án: Trong vụ án này bị cáo N phải chịu trách nhiệm hình sự cao hơn bị cáo T1 vì bị cáo N là người trực tiếp dùng điện thoại của mình để chụp ảnh, quay Video có hình ảnh ông Dương Văn T3 để đăng bài viết với nội dung xúc phạm danh dự ông T3 kèm theo vi deo, hình ảnh cá nhân của ông T3 lên Facebook của mình ở chế độ công khai. N đã thực hiện hành vi này nhiều lần cụ thể vào các ngày 05/4/2023 và ngày 13/4/2023. Tạ Thị T1, không có quan hệ họ hàng với ông T3, không biết rõ nội dung vụ việc tranh chấp đất giữa ông T3 và bà G, không có mâu thuẫn với ông T3. Tuy nhiên, T1 vẫn đăng tải, chia sẻ, kêu gọi, kích động người khác chia sẻ bài viết của Hoàng Đức N trên tài khoản Facebook và Ticktok cá nhân của mình.

[5] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đó là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo T1 phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra, gia đình các bị cáo đều có công với cách mạng được tặng thưởng huân huy chương kháng chiến nên các bị cáo còn được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Từ những phân tích đánh giá nêu trên, nhận thấy mặc dù bị cáo N phạm tội hai lần nhưng đều thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo, ăn năn hối hận về hành vi phạm tội của mình, các bị cáo đều có nơi cư trú ổn định rõ ràng, nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Do đó cho các bị cáo được cải tạo ngoài xã hội cũng đủ tác dụng cải tạo, giáo dục các bị cáo.

Đối với Tạ Văn H và Tạ Thị T đều có hành vi chia sẻ bài viết của Hoàng Đức N, nhưng không xác định được lượt tương tác. Sau khi chia sẻ thì ông H và bà T đã xoá bài viết, xét chưa đến mức xử lý hình sự nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý là phù hợp.

Đối với những tài khoản Facebook Hoa Hồng, B, T, Dương P, Nguyễn C, Nguyễn Ngọc T5, T2, T6, Duong Van C1 do không xác định được thông tin người sử dụng nên không có căn cứ để điều tra làm rõ.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Do người bị hại đều không yêu cầu các bị cáo bồi thường nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.

[7] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 4 Điều 155 Bộ luật hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm”. Tuy nhiên Cơ quan điều tra xác minh, các bị cáo đều không đảm nhiệm chức vụ và có nghề nghiệp là lao động tự do nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[8] Về vật chứng: Qúa trình điều tra cơ quan Công an thu giữ: 01 điện thoại Iphone X, màu trắng, 64G của N. Xét đây là phương tiện mà bị cáo đã sử dụng vào việc phạm tội. Do đó cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.

[9] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a, e khoản 2 Điều 155; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Hoàng Đức N: 09(chín) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 18 tháng kể từ ngày tuyên án về tội: “Làm nhục người khác”.

Căn cứ điểm e khoản 2 Điều 155; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Tạ Thị T1: 06 (sáu) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng kể từ ngày tuyên án về tội: “Làm nhục người khác”.

Giao bị cáo N cho UBND xã M, huyện S, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Giao bị cáo T1 cho UBND xã H, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Căn cứ Điều 47, Điều 106, Điều 136, Điều 332, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 chiếc điện thoại di động Iphone X, màu trắng, 64G thu giữ của N. Tình trạng như Biên bản bàn giao giữa Cơ quan Công an huyện S và Chi cục thi hành án dân sự huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội.

Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm các bị cáo được quyền kháng cáo. Người bị hại được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận

  • - Các bị cáo;
  • - Các đương sự;
  • - VKSND H.Sóc Sơn;
  • - Công an H. Sóc Sơn;
  • - THADS H.Sóc Sơn;
  • - Lưu HS, VP

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Như ý

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 275/2023/HS-ST ngày 26/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN - THÀNH PHỐ HÀ NỘI về làm nhục người khác

  • Số bản án: 275/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Làm nhục người khác
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Hoàng Đức Ngọc và Tạ Thị THủy phạm tội Làm nhục người khác
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger