Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHÚ TÂN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 275/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 26 - 4 - 2024

V/v Ly hôn và tranh chấp nuôi con

khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Bùi Văn Chiến

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Đặng Văn Tác
  2. Ông Võ Văn Tám

- Thư ký phiên toà: Ông Trần Thiện Nhân - Thư ký Toà án nhân dân huyện Phú Tân.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện tham gia phiên toà: ông Lưu Tiến Dũng – Kiểm sát viên sơ cấp

Trong ngày 26 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 173/2024/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 3 năm 2024 về tranh chấp Hôn nhân và Gia đình “ Ly hôn và tranh chấp nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 128/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 112/QĐST -HNGĐ, ngày 22 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: anh Lê Thanh H, sinh năm 1988.
  2. Nơi cư trú: tổ A, ấp P, xã P, huyện P, tỉnh An Giang. Số điện thoại: 0963.962.xxx;

  3. Bị đơn: chị Lê Thị H1, sinh năm 1996.
  4. Nơi cư trú: tổ D, ấp H, xã P, huyện P, tỉnh An Giang. Số điện thoại: 0979.746.xxx;

    (anh H xin vắng mặt, chị H1 vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và quá trình hòa giải, nguyên đơn anh Lê Thanh H trình bày:

Anh và chị Lê Thị H1 quen biết tự tìm hiểu, đến năm 2020 thì sống chung với nhau như vợ chồng, không có tổ chức lễ cưới, đến năm 2022 đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện P, tỉnh An Giang theo Giấy chứng nhận kết hôn số 69 ngày 12 tháng 7 năm 2022.

Thời gian đầu chung sống hạnh phúc và cùng nhau đi Thành phố Hồ Chí Minh để làm thuê, đến ngày 19/4/2023 về quê thăm gia đình, không biết lý do gì chị H1 tự bỏ đi không biết đi đâu, cũng không nói cho anh biết, chỉ nhắn lại với gia đình là do thiếu nợ nên phải đi làm để trả nợ, từ khi chị H1 bỏ đi anh không liên lạc được, khoảng 01 tháng sau thì chị H1 gọi về báo với anh là đang làm ở tỉnh Bình Dương và nói với anh ở quê nuôi con chung, nên từ đó anh ở lại xã P, huyện P làm cửa sắt, mái che, hàng rào để nuôi con và vợ chồng ly thân cho đến nay, thời gian ly thân chị H1 không về thăm con, không quan tâm hỏi thăm chồng, con và gia đình nên đến nay vợ chồng cũng không hàn gắn được do đó tình cảm không còn, nên anh yêu cầu được ly hôn với chị Lê Thị H1.

Về con chung: có 01 con chung tên Lê Khánh Đ, sinh ngày 14/11/2020, hiện anh đang nuôi dưỡng. Nay ly hôn anh yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung, không yêu cầu chị H1 cấp dưỡng cho con.

Về tài sản chung và nợ chung: không có, không yêu cầu Toá án giải quyết.

* Chị Lê Thị H1 vắng mặt từ khi Toà án thụ lý vụ án nên không có ý kiến trình bày

Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân:

- Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định pháp luật, tuy nhiên chị H1 vắng mặt suốt quá trình tố tụng là chấp hành pháp luật chưa nghiêm, chị cũng được tống đạt triệu tập để nghe xét xử đến lần thứ 2 mà vẫn vắng mặt, anh H có đơn xin vắng mặt và có ý kiến trình bày rõ ràng yêu cầu của mình, do đó đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) xét xử vắng mặt anh H và chị H1 theo Điều 227 và Điều 228 Bộ Luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung: Hôn nhân của anh, chị do hai người tìm hiểu tự nguyện chung sống năm 2020, đến năm 2022 đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện P, tỉnh An Giang, thời gian đầu chung sống hạnh phúc sau đó vợ chồng cùng đi TP làm thuê, đến ngày 19/4/2023 về quê thăm gia đình, rồi chị H1 tự bỏ đi làm ăn xa, anh H cũng không biết đi đâu, thời gian sau chị H1 gọi điện về thông tin đi làm ở tỉnh Bình Dương và yêu cầu anh H nuôi con, từ đó anh H ở lại quê làm gia công cửa sắt, mái che, hàng rào...từ đó vợ chồng ly thân cho đến nay, sau khi ly thân chị H1 cũng không quan tâm chồng, con mà bỏ mặt cho anh H tự chăm sóc con chung, từ đó tình cảm vợ chồng phai nhạt, mục đích hôn nhân không đạt được, nên anh H yêu cầu ly hôn với chị H1 là có căn cứ, phù hợp với lời trình bày của bà Nguyễn Thị L (mẹ ruột anh H), đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) xem xét chấp nhận.

- Về con chung: có 01 con chung tên Lê Khánh Đ, sinh ngày 14/11/2020, hiện anh H đang nuôi dưỡng. Nay ly hôn anh H yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Đ không yêu cầu chị H1 cấp dưỡng cho con. Nhận thấy việc trông nom, chăm sóc giáo dục, nuôi dưỡng con sau khi ly hôn, vợ chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên đối với con chưa thành niên, cháu Đ sống với anh H cháu cũng được nuôi dưỡng chăm sóc đảm bảo, do đó đề nghị hội đồng xét xử (HĐXX) giao cháu Đ cho anh H tiếp tục nuôi dưỡng, chị H1 không phải cấp dưỡng cho con như ý kiến của anh H cũng phù hợp với Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình.

- Về tài sản chung và nợ chung: không có tranh chấp nên không giải quyết

Đồng thời buộc các đương sự chịu án phí theo quy định của pháp luật

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Về người tham gia tố tụng: nguyên đơn anh Lê Thanh H yêu cầu được vắng mặt khi xét xử, anh có ý kiến trình bày rõ ràng yêu cầu của mình, bị đơn chị Lê Thị H1 được tống đạt triệu tập lần thứ 2 để nghe xét xử, nhưng chị không có mặt; việc vắng mặt của anh, chị không ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án, nên HĐXX xét xử vắng mặt anh, chị theo Điều 227 và Điều 228 Bộ Luật Tố tụng dân sự để đảm bảo quyền lợi cho các bên.

[1.2] Về thẩm quyền giải quyết: hiện nay chị H1 cư trú tại: ấp H, xã P, huyện P, tỉnh An Giang, nên anh H khởi kiện xin ly hôn là thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ Luật Tố tụng dân sự.

[1.3] Về quan hệ tranh chấp: anh H xin ly hôn và giải quyết việc nuôi con nên quan hệ tranh chấp là “ Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo quy định tại khỏan 1 Điều 28 Bộ Luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung: Xét chứng cứ có trong hồ sơ thể hiện, hôn nhân của anh, chị do hai người tự tìm hiểu tự nguyện chung sống như vợ chồng năm 2020, không tổ chức lễ cưới, đến năm 2022 mới đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện P, tỉnh An Giang, thời gian đầu chung sống hạnh phúc rồi vợ chồng cùng lên TP làm thuê sinh sống, đến ngày 19/4/2023 về quê thăm gia đình, chị H1 tự bỏ đi không cho anh H và gia đình biết, anh H liên lạc không được sau đó khoản 1 tháng chị H1 gọi điện về báo do thiếu nợ nên đi làm để trả nợ, chị đang làm thuê ở tỉnh Bình Dương, cho anh H hay tự nuôi con rồi vợ chồng ly thân, sau khi ly thân hai bên không tạo điều kiện để vợ chồng hàn gắn, chị H1 bỏ mặt cho anh H tự chăm sóc con, từ đó tình cảm vợ chồng phai nhạt, mục đích hôn nhân không đạt được, nên anh H yêu cầu ly hôn với chị H1 là có căn cứ phù hợp với lời trình bày của bà Nguyễn Thị L (mẹ ruột anh H), để anh chị có cuộc sống riêng sau này nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh H theo Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

- Về con chung: có 01 con chung tên Lê Khánh Đ, sinh ngày 14/11/2020, hiện anh H đang nuôi dưỡng. Nay ly hôn anh H yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Đ không yêu cầu chị H1 cấp dưỡng cho con. Xét thấy việc trông nom, chăm sóc giáo dục, nuôi dưỡng con sau khi ly hôn, vợ chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên đối với con chưa thành niên, cháu Đ sống với anh H cháu cũng được nuôi dưỡng chăm sóc đảm bảo, do đó HĐXX giao cháu Đ cho anh H tiếp tục nuôi dưỡng, chị H1 không phải cấp dưỡng cho con như ý kiến của anh H cũng phù hợp với Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình.

- Về tài sản chung và nợ chung: không có tranh chấp nên không giải quyết

[3] Về án phí: anh Lê Thanh H là người xin ly hôn, nên phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ Điều 56 và Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
  • - Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ Luật Tố tụng Dân sự 2015;
  • - Căn cứ Điều 26 Luật Thi hành án dân sự;
  • - Căn cứ Điều 26, khoản 5 Điều 27, Điều 48 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
  • Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của anh Lê Thanh H đối với chị Lê Thị H1.

- Về hôn nhân: anh Lê Thanh H được ly hôn với chị Lê Thị H1.

- Về con chung: Tiếp tục giao 01 con chung tên Lê Khánh Đ, sinh ngày 14/11/2020 cho anh Lê Thanh H nuôi dưỡng đến thành niên hoặc tự lập được, chị Lê Thị H1 không phải cấp dưỡng cho con.

- Về tài sản chung; nợ chung phải thu, phải trả: không có.

- Về án phí dân sự sơ thẩm: anh Lê Thanh H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn, được khấu trừ 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0006739 ngày 13/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Tân, chị Lê Thị H1 không phải chịu án phí.

Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt hoặc niêm yết bản sao bản án.

Trường hợp bản án, được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sư, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

HỘI THẨM NHÂN DÂNTHẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
Võ Văn T – ĐBùi Văn C

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND huyện PT;
  • - CCTHADS huyện PT;
  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - Lưu: hồ sơ vụ án, TA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Văn Chiến

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 275/2024/HNGĐ-ST ngày 26/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG về ly hôn và tranh chấp nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 275/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn và tranh chấp nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của anh Lê Thanh H đối với chị Lê Thị H1.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger