TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 275/2024/HSST Ngày: 23/9/2024. | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Hùng Vương.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Lê Văn Rồi.
- Ông Nguyễn Văn Vân.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Thanh Thi – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh:
Ông Nguyễn Văn Hiếu – Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 9 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 263/2024/TLST-HS ngày 29 tháng 08 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 270/2024/QĐST-HS ngày 06/9/2024, đối với các bị cáo:
1/ Họ và tên: Nguyễn Bá L (tên gọi khác: Mênh);
Sinh năm: 1992; Tại: thành phố Hồ Chí Minh.
Hộ khẩu thường trú: số F đường F (đường Đ), ấp T, xã P, huyện C, thành phố Hồ Chí Minh.
Nơi ở hiện nay: số F đường F (đường Đ), ấp T, xã P, huyện C, thành phố Hồ Chí Minh.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không.
Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: không.
Con ông Nguyễn Bá T và bà Nguyễn Thị K.
Anh, chị, em: 02 người (kể cả bị cáo).
Vợ: Đặng Thị Thái N, sinh năm 1985.
Con: 01 người, sinh năm 2021.
Nhân thân: Ngày 03/01/2017, Toà án nhân dân huyện Củ Chi căn cứ điểm a khoản 2 Điều 104; điểm b, p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt Nguyễn Bá L 02 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 22/7/2016, theo Bản án số 01/2017/HSST. Bị hại kháng cáo bản án đề nghị tăng mức hình phạt đối với bị cáo L. Ngày 21/3/2017, Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử vụ án theo thủ tục phúc thẩm, tuyên không chấp nhận kháng cáo của bị hại, giữ nguyên hình phạt đối với bị cáo L. L đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 22/6/2018, đã nộp án phí hình sự sơ thẩm ngày 17/5/2017, đương nhiên được xóa án tích (bút lục 189-197).
Tiền án, tiền sự: Không có.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 31/01/2024.
Bị cáo hiện có mặt tại phiên tòa.
2/ Họ và tên: Nguyễn Thanh L1 (tên gọi khác: không có);
Sinh năm: 1999; Tại: tỉnh thành phố Hồ Chí Minh.
Hộ khẩu thường trú: số F đường C, ấp P, xã P, huyện C, thành phố Hồ Chí Minh.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không.
Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: không.
Con ông Nguyễn Thanh H, sinh năm 1978 và bà Nguyễn Thị Thanh L2, sinh năm 1978.
Anh, chị, em: 02 người (kể cả bị cáo).
Vợ, con: Chưa có.
Nhân thân: Ngày 07/02/2018, Toà án nhân dân huyện Củ Chi áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Thanh L1, thời hạn 18 tháng tại Cơ sở Cai nghiện ma tuý - Bảo trợ xã hội P về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, theo Quyết định số 46/QĐ-TA. Lai chấp hành xong ngày 31/5/20219 (bút lục 205-208).
Tiền án: Ngày 08/11/2021, Toà án nhân dân huyện Củ Chi căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt Nguyễn Thanh L1 02 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 04 năm, về tội “Gây rối trật tự công cộng”, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 08/11/2021. Lai đang trong thời gian thử thách án treo (bút lục 209-218).
Tiền sự: Không có.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/01/2024.
Bị cáo hiện có mặt tại phiên tòa.
- Người bị hại: Ông Nguyễn Minh T1, sinh năm: 1991; (vắng mặt)
Địa chỉ: Số F đường G, tổ A, ấp Đ, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 08 giờ 00 phút ngày 17/11/2023, Nguyễn Thanh L1 đến nhà của Nguyễn Bá L tại số F Đường số F (đường Đ), ấp T, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. Tại đây, L rủ L1 cùng nhau đi cướp giật dây chuyền vàng để bán lấy tiền tiêu xài thì L1 đồng ý. Sau đó, L điều khiển xe máy hiệu Yamaha, loại Exciter, biển số 59N1-983.89 (L đã bôi trắng con số 8 của biển số, từ 59N1-983.89 thành 59N1-9..3.89) chở L1 ngồi sau đi tìm người có đeo dây chuyền vàng để cướp giật. Đến khoảng 09 giờ 25 phút cùng ngày, khi lưu thông bên phải trên Quốc lộ B hướng về cầu vượt C đoạn thuộc ấp Đ, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh thì L1 phát hiện ông Nguyễn Minh T1 đang điều khiển xe gắn máy chạy một mình phía trước cùng chiều trên cổ có đeo sợi dây chuyền vàng. Lai chỉ cho L nhìn thấy sợi dây chuyền của anh T1 và kêu L chạy xe áp sát để L1 giật, L điều khiển xe chạy áp sát phía bên trái anh T1, L1 dùng tay phải giật sợi dây chuyền vàng dạng mắt xích của anh T1 đang đeo trên cổ. Ngay sau đó, L tăng ga bỏ chạy để tẩu thoát. Khi đến ngã tư Quốc lộ B giao với đường L, Lai và L không phát hiện bị truy đuổi nên cả hai rẽ trái chạy vào đường L, đến đồng ruộng thuộc ấp X, xã T, huyện C, L đưa xe cho L1 điều khiển. Lúc này, L1 đưa sợi dây chuyền vàng vừa giật được cho L cất giữ và L1 điều khiển xe chở L đi về hướng Long An để bán sợi dây chuyền. Khi đến trước quán C tại địa chỉ Số G, Tỉnh lộ 8, ấp Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh
Long An thì L kêu L1 xuống xe đi vào quán cà phê uống nước để L đi bán sợi dây chuyền. L1 xuống xe vào quán uống nước và L mang sợi dây chuyền đến tiệm V tại địa chỉ số B, ấp Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An do chị Phan Thị H1 là chủ tiệm, bán được số tiền 12.000.000 đồng. Sau đó, L quay lại quán nước gặp L1 nói bán sợi dây chuyền được 8.100.000 đồng, chia cho L1 4.000.000 đồng, rồi cả 2 đi về. L1 đã tiêu xài cá nhân hết số tiền 4.000.000 đồng do L chia. Đến ngày 22/01/2024, ông Nguyễn Minh T1 đến Công an xã T, huyện C tố giác tội phạm.
Qua làm việc, Nguyễn Thanh L1 khai nhận đã cùng Nguyễn Bá L cùng nhau thực hiện hành vi cướp giật sợi dây chuyền vàng của ông Nguyễn Minh T1 như nêu trên.
Kết luận định giá tài sản số 21/KL-HĐĐGTS ngày 29/02/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự - Ủy ban nhân dân huyện C, kết luận: 01 sợi dây chuyền vàng, dạng mắt xích, loại 18K, trọng lượng 05 chỉ có giá trị 22.502.000 đồng (bút lục 153-158)
Vật chứng vụ án:
- - 01 Áo khoác dài tay màu đen, kẻ sọc trắng có chữ Adidas; 01 áo thun ngắn tay màu trắng, có chữ ICON.
- - 01 Quần Jean lửng màu xanh; 01 áo khoác dài tay màu xanh đen; 01 nón bảo hiểm màu xám.
- - 01 Chiếc xe gắn máy hiệu Yamaha, loại Nouvo, biển số 59Y2-251.48, tạm giữ của L.
- - 01 Chiếc xe gắn máy hiệu Yamaha Exciter, biển số 59N1-983.89, số khung: RLCE1S940AY 051600, số máy: 1S94051601, tạm giữ của Trương Hoài N1.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận đã thực hiện toàn bộ hành vi như đã nêu trong cáo trạng.
Tại bản cáo trạng số 247/CT-VKSCC ngày 26/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Củ Chi để xét xử Nguyễn Bá L và Nguyễn Thanh L1 về tội “Cướp giật tài sản” quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 của Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội:
Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với nội dung bản cáo trạng và các chứng cứ có tại hồ sơ.
Vào khoảng 09 giờ 25 phút ngày 17/11/2023 trên Quốc lộ B đoạn thuộc ấp Đ, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, Nguyễn Thanh L1 và Nguyễn Bá L sử dụng xe gắn máy làm phương tiện cướp giật một 01 sợi dây chuyền vàng, dạng mắt xích loại 18K, trọng lượng 05 chỉ, có giá trị 22.502.000 đồng của ông Nguyễn Minh T1. Do đó, đã có đủ cơ sở kết luận các bị cáo Nguyễn Bá L và Nguyễn Thanh L1 đã phạm tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d Khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa, bị cáo L đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: xấu. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm d Khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017); Xử phạt bị cáo Nguyễn Bá L từ 04 năm tù đến 05 năm tù.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra và tại phiên tòa, bị cáo L1 đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Tiền án: có một tiền án về tội “Gây rối trật tự công cộng”; Tiền sự: không; Nhân thân: xấu. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm d Khoản 2 Điều
171; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017); Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh L1 từ 04 năm tù đến 05 năm tù. Tổng hợp hình phạt 02 (H2) năm tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” của bản án số: 171/HSST, ngày 08/11/2021 của Tòa án nhân dân huyện củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh để buộc bị cáo phải chấp hành.
Đối với Phan Thị H1 là chủ tiệm V: không biết sợi dây chuyền vàng dạng mắt xích do Nguyễn Bá L bán là do phạm tội mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C không xử lý đối với H1 là có căn cứ.
Đối với Nguyễn Văn T2, Trương Hoài N1 không biết xe máy hiệu Yamaha Exciter, biển số 59N1-983.89, được sử dụng làm phương tiện đi cướp giật tài sản, sau đó N1 đã giao nộp cho cơ quan Công an phục vụ công tác điều tra. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C không xử lý đối với T2 và N1 là có căn cứ.
Về xử lý vật chứng:
- - Tịch thu tiêu hủy: 01 Áo khoác dài tay màu đen, kẻ sọc trắng có chữ Adidas; 01 áo thun ngắn tay màu trắng, có chữ ICON; 01 Quần Jean lửng màu xanh; 01 áo khoác dài tay màu xanh đen; 01 nón bảo hiểm màu xám.
- - Đối với 01 Chiếc xe gắn máy hiệu Yamaha, loại Nouvo, biển số 59Y2-251.48, tạm giữ của L. Xe máy này do anh Nguyễn Thanh H3 (sinh năm 1982; nơi thường trú: ấp T, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh) đứng tên chủ sở hữu. Đến năm 2019, anh H3 bán xe cho chị Đặng Thị Thái N là vợ của Nguyễn Bá L. Cơ quan CSĐT Công an huyện C đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả cho chủ sỡ hữu hợp pháp chị Đặng Thị Thái N (bút lục 175, 177).
- - Đối với 01 Chiếc xe gắn máy hiệu Yamaha Exciter, biển số 59N1-983.89, số khung: RLCE1S940AY 051600, số máy: 1S94051601, tạm giữ của Trương Hoài N1. Chiếc xe máy này do anh Dương Chí L3 (sinh năm 1983; nơi thường trú: số 59/25/1 đường Đ, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh) đứng tên chủ sở hữu. Năm 2016, anh L3 bán xe cho anh Nguyễn Thành L4 (sinh năm 1985; nơi thường trú: thôn H, xã T, huyện D, tỉnh Lâm Đồng). Qua làm việc, anh L4 trình bày vẫn đang sử dụng xe máy trên. Tiến hành xác minh, số khung: RLCE1S940AY051600, số máy: 1S94051601 của xe máy hiệu Yamaha Exciter, biển số 55Y2-3356 do anh Lê Văn T3 (sinh năm 1977, nơi thường trú: số 2/13/4 khu phố C, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh) đứng tên đăng ký xe. Qua làm việc, anh T3 trình bày đứng tên chủ quyền xe dùm cho anh Lê Phương B (sinh năm 1974; nơi thường trú: số A ấp T, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh là anh ruột anh T3). Tiến hành lấy lời khai, anh B trình bày vào ngày 09/11/2017, anh B để xe máy trên trước nhà số B T, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh và đi vào bên trong nhà bạn đi vệ sinh, khoảng 05 phút sau đi ra thì phát hiện bị mất xe. Sự việc mất xe anh B có đến Công an phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh trình báo. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C chuyển xe cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q, Thành phố Hồ Chí Minh xử lý theo thẩm quyền (bút lục 172, 175).
Các bị cáo không tranh luận, không tự bào chữa.
Lời nói sau cùng của các bị cáo:
Bị cáo L trình bày: Bị cáo nhận thấy hành vi của bị cáo là sai, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, để bị cáo sớm về với gia đình.
Bị cáo L1 trình bày: xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội đúng như cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với các chứng cứ có tại hồ sơ.
Vào khoảng 09 giờ 25 phút ngày 17/11/2023 trên Quốc lộ B đoạn thuộc ấp Đ, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, Nguyễn Thanh L1 và Nguyễn Bá L sử dụng xe gắn máy làm phương tiện cướp giật một 01 sợi dây chuyền vàng, dạng mắt xích loại 18K, trọng lượng 05 chỉ của ông Nguyễn Minh T1; Kết luận định giá tài sản số 21/KL-HĐĐGTS ngày 29/02/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân huyện C, kết luận: 01 sợi dây chuyền vàng, dạng mắt xích, loại 18K, trọng lượng 05 chỉ có giá trị 22.502.000 đồng; Hành vi của các bị cáo là dùng thủ đoạn nguy hiểm cướp giật tài sản của người khác, hành vi này của các bị cáo trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ và hậu quả có thể gây ra nguy hiểm đến tính mạng và sức khỏe của người khác. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Nguyễn Bá L, Nguyễn Thanh L1 đã phạm tội “Cướp giật tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã sửa đổi bổ sung năm 2017.
Do đó, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo Nguyễn Bá L, Nguyễn Thanh L1 về tội danh và điều khoản nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Các bị cáo là người thành niên, nhận thức rõ hành vi của mình là sai, bị pháp luật cấm nhưng vẫn thực hiện. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Các bị cáo đã có hành vi dùng thủ đoạn nguy hiểm cướp giật tài sản của người khác để bán lấy tiền tiêu sài. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo và giáo dục các bị cáo trở thành người tốt đồng thời phòng ngừa chung cho xã hội.
Tuy nhiên, Hội đồng xét xử cần xem xét tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi và nhân thân của bị cáo để có mức hình phạt tương xứng.
Bị cáo L là người thành niên, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự; Tiền án; Tiền sự: không; Nhân thân: xấu. Tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51; điểm d khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017) để quyết định mức hình phạt cho bị cáo là có cơ sở.
Bị cáo L1 là người thành niên, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự; Tiền án: có một tiền án về tội “Gây rối trật tự công cộng”; Tiền sự: không; Nhân thân: xấu. Tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng
các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm d khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017) để quyết định mức hình phạt cho bị cáo là có cơ sở.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn Minh T1 yêu cầu Nguyễn Bá L và Nguyễn Thanh L1 bồi thường giá trị sợi dây chuyền vàng dạng mắt xích bị chiếm đoạt, tương đương số tiền 22.502.000 đồng.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Bá L tự nguyện bồi thường cho ông Nguyễn Minh T1 số tiền 11.251.000 đồng (Mười một triệu hai trăm năm mươi mốt nghìn đồng); thanh toán 01 lần, ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, Hội đồng xét xử xét thấy phù hợp nên chấp nhận.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thanh L1 tự nguyện bồi thường cho ông Nguyễn Minh T1 số tiền 11.251.000 đồng (Mười một triệu hai trăm năm mươi mốt nghìn đồng); thanh toán 01 lần, ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, Hội đồng xét xử xét thấy phù hợp nên chấp nhận.
Về vật chứng:
- Đối với 01 Áo khoác dài tay màu đen, kẻ sọc trắng có chữ Adidas; 01 áo thun ngắn tay màu trắng, có chữ ICON; 01 Quần Jean lửng màu xanh; 01 áo khoác dài tay màu xanh đen; 01 nón bảo hiểm màu xám. Là vật chứng, không có giá trị sử dụng. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Hội đồng xét xử xét thấy cần tịch thu tiêu hủy là phù hợp.
- Đối với 01 Chiếc xe gắn máy hiệu Yamaha, loại Nouvo, biển số 59Y2-251.48, tạm giữ của L. Xe máy này do anh Nguyễn Thanh H3 (sinh năm 1982; nơi thường trú: ấp T, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh) đứng tên chủ sở hữu. Đến năm 2019, anh H3 bán xe cho chị Đặng Thị Thái N là vợ của Nguyễn Bá L. Cơ quan CSĐT Công an huyện C đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả cho chủ sỡ hữu hợp pháp chị Đặng Thị Thái N (bút lục 175, 177), do đó Hội đồng xét xử không xem xét.
- Đối với 01 Chiếc xe gắn máy hiệu Yamaha Exciter, biển số 59N1-983.89, số khung: RLCE1S940AY 051600, số máy: 1S94051601, tạm giữ của Trương Hoài N1. Chiếc xe máy này do anh Dương Chí L3 (sinh năm 1983; nơi thường trú: số 59/25/1 đường Đ, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh) đứng tên chủ sở hữu. Năm 2016, anh L3 bán xe cho anh Nguyễn Thành L4 (sinh năm 1985; nơi thường trú: thôn H, xã T, huyện D, tỉnh Lâm Đồng). Qua làm việc, anh L4 trình bày vẫn đang sử dụng xe máy trên. Tiến hành xác minh, số khung: RLCE1S940AY051600, số máy: 1894051601 của xe máy hiệu Yamaha Exciter, biển số 55Y2-3356 do anh Lê Văn T3 (sinh năm 1977, nơi thường trú: số 2/13/4 khu phố C, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh) đứng tên đăng ký xe. Qua làm việc, anh T3 trình bày đứng tên chủ quyền xe dùm cho anh Lê Phương B (sinh năm 1974; nơi thường trú: số A ấp T, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh là anh ruột anh T3). Tiến hành lấy lời khai, anh B trình bày vào ngày 09/11/2017, anh B để xe máy trên trước nhà số B T, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh và đi vào bên trong nhà bạn đi vệ sinh, khoảng 05 phút sau đi ra thì phát hiện bị mất xe. Sự việc mất xe anh B có đến Công an phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh trình báo. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C chuyển xe cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q, Thành phố Hồ Chí Minh xử lý theo thẩm quyền (bút lục 172, 175), do đó Hội đồng xét xử không xem xét.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh giữ nguyên bản cáo trạng số 247/CT-VKSCC ngày 26/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi đã truy tố bị cáo Nguyễn Bá L và Nguyễn Thanh L1 về tội “Cướp giật tài sản” quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với các bị cáo theo điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xét thấy có cơ sở nên chấp nhận.
Về án phí: Bị cáo L, bị cáo L1 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thượng vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Bá L, Nguyễn Thanh L1 phạm tội “Cướp giật tài sản”.
- Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Xử phạt bị cáo Nguyễn Bá L 04 (Bốn) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 31/01/2024.
- Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh L1 04 (Bốn) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 25/01/2024.
Áp dụng Điều 56 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017); Tổng hợp hình phạt 02 (Hai) năm tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” của bản án số: 171/HSST, ngày 08/11/2021 của Tòa án nhân dân huyện củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh; Bị cáo Nguyễn Thanh L1 phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 06 (Sáu) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 25/01/2024 và trừ đi thời gian tạm giữ, tạm giam trước đó từ ngày 01/12/2020 đến ngày 29/4/2021.
Buộc bị cáo Nguyễn Bá L phải bồi thường cho ông Nguyễn Minh T1 số tiền 11.251.000 đồng (Mười một triệu hai trăm năm mươi mốt nghìn đồng); thanh toán 01 lần, ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Buộc bị cáo Nguyễn Thanh L1 phải bồi thường cho ông Nguyễn Minh T1 số tiền 11.251.000 đồng (Mười một triệu hai trăm năm mươi mốt nghìn đồng); thanh toán 01 lần, ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
Tịch thu tiêu hủy 01 Áo khoác dài tay màu đen, kẻ sọc trắng có chữ Adidas; 01 áo thun ngắn tay màu trắng, có chữ ICON; 01 Quần Jean lửng màu xanh; 01 áo khoác dài tay màu xanh đen; 01 nón bảo hiểm màu xám (Đã sử dụng).
Các vật chứng, tài sản nêu trên được liệt kê tại phiếu nhập kho vật chứng số: 72/PNK ngày 15/3/2024 của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. (Bút lục số 174)
Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016:
Án phí HS-ST: Bị cáo Nguyễn Bá L và bị cáo Nguyễn Thanh L1, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
Án phí dân sự sơ thẩm, bị cáo Nguyễn Thanh L1 phải chịu là 562.550 đồng (Năm trăm sáu mươi hai nghìn năm trăm năm mươi đồng).
Án phí dân sự sơ thẩm, bị cáo Nguyễn Bá L phải chịu là 562.550 đồng (Năm trăm sáu mươi hai nghìn năm trăm năm mươi đồng).
Về quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Bá L và bị cáo Nguyễn Thanh L1 được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án. Ông T1 vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Hùng Vương |
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
| Hội thẩm nhân dân | Hội thẩm nhân dân | Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa |
Bản án số 275/2024/HSST ngày 23/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về cướp giật tài sản
- Số bản án: 275/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Cướp giật tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Cướp giật tài sản
