Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 275/2024/HS-PT

Ngày: 22 - 04 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Thu

Các Thẩm phán: Ông Phạm Công Mười

Ông Chung Văn Kết

Thư ký phiên tòa: Ông Đàm Lê Nhân - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao

tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh

tham gia phiên tòa: Bà Cao Thị Hạnh - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 04 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 29/2024/TLPT-HS ngày 11 tháng 01 năm 2024 đối với bị cáo Lê Hải L do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 558/2023/HSST ngày 28 tháng 11 năm 2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

* Bị cáo có kháng cáo: Lê Hải L; giới tính: nam; sinh năm 1987, tại tỉnh Quảng Trị; nơi đăng ký thường trú: khu phố G, Phường C, thị xã Q, tỉnh Quảng Trị; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: không; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; con ông Lê Văn H (đã chết) và bà Trần Thị L1, sinh năm 1967; vợ là bà Lê Thị Hồng T, sinh năm 1991; con: có 01 con sinh năm 2015; tiền sự: không; tiền án: tại Bản án hình sự sơ thẩm số 03/2019/HS-ST ngày 11/3/2019, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị kết án 12 tháng tù về tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 15/11/2019; nhân thân: ngày 06/10/2018, Công an P, thị xã Q, tỉnh Quảng Trị ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính - phạt tiền, về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; tại Bản án hình sự sơ thẩm số 182/2020/HSST ngày 16/11/2020, Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 07/01/2022; bị bắt, tạm giữ từ ngày 07/01/2022 (có mặt).

(Ngoài ra vụ án còn có 04 bị cáo khác, 06 bị hại không có kháng cáo, không liên quan đến kháng cáo nên Tòa án không triệu tập)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng tháng 5/2020, sau khi chấp hành xong hình phạt tù về tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản” tại tỉnh Quảng Trị, Lê Hải L vào Thành phố Hồ Chí Minh. L rủ Cao Trần Duy H1, Hoàng Minh Q, Mai Nhật M và Nguyễn Minh Đ cùng tham gia lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người khác thì tất cả đồng ý. L và H1 đứng ra thuê nhà tại địa chỉ 1 Đường số C, Phường I, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh để cả nhóm ở với số tiền 3.500.000 đồng/01 tháng. L bàn bạc với cả nhóm thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người khác với phương thức thủ đoạn là L, M sử dụng các địa chỉ email ngaymai@gmail.com.vngiahan181111@gmail.com.vnnhập và sử dụng máy tính hack (chiếm đoạt) tài khoản facebook của người khác, tạo lập hóa đơn giả mạo chuyển tiền bằng số tài khoản giả 19120083641617 và sử dụng số điện thoại nước ngoài là +1573038561 để liên lạc, câu nhử, lập đường dẫn link giả mạo trang chuyển tiền từ nước ngoài về (https://transfermoney.weebly.com-/otp/htmlu trang bán hàng (https://monngon-vietnam.weebly,comvà dịch vụ chuyển trả tiền nhanh (qua trang https://Western ) có biểu mẫu soạn sẵn yêu cầu người bị hại điền các thông tin đăng nhập gồm số điện thoại, số tài khoản, mật khẩu, mã OTP chuyển tiền, sau đó L sao lưu các thông tin trên về 02 địa chỉ email ngaymai@gmail.com.vngiahan181111@gmail.com.vn

Sau khi lấy được thông tin của những người này, L và M đưa cho H1, Q sử dụng tài khoản facebook hack thay đổi mật khẩu đăng nhập, mạo danh chủ tài khoản facebook nhắn tin liên lạc bạn bè, người thân của những người này để nhờ chuyển tiền trả nợ, mua hàng, chuyển tiền từ nước ngoài về làm từ thiện hoặc chuyển tiền nhanh thông qua tài khoản ngân hàng rồi chiếm đoạt tiền của người bị hại.

Từ cuối tháng 5/2020 đến tháng 6/2020, với thủ đoạn trên, nhóm của L đã chiếm đoạt quyền đăng nhập của trên 40 địa chỉ facebook của các cá nhân. Trong đó, sử dụng các tài khoản facebook của người Việt Nam định cư tại Mỹ là “Thao Vu”, “Thuy Nguyen”, “Do Dieu L2” và “Diem Huong” để lừa đảo chiếm đoạt tiền của các bị hại.

Để có tài khoản Ngân hàng nhận tiền lừa đảo được, H1 mua 01 sim điện thoại có số 0565.448.xxx và liên hệ nhờ Đoàn Vĩnh H2 đứng tên mở tài khoản số 0602 4882 5726 và làm 01 thẻ rút tiền ATM tại Ngân hàng S1 - Phòng G1 (viết tắt là tài khoản tên H2), H1 trả cho H2 tiền công 500.000 đồng. Ngày 10/6/2020, H1 tiếp tục mua sim số điện thoại 0565.448.xxx và nhờ người bạn gái tên S (chưa rõ lai lịch) sử dụng chứng minh nhân dân tên Võ Thị Huỳnh N (sinh năm 1998, trú tại ấp C, xã T, huyện G, tỉnh Tiền Giang) mở tài khoản số 1299907 và làm 01 thẻ rút tiền ATM tại Ngân hàng TMCP Á - Chi nhánh B1 (viết tắt là tài khoản tên N), H1 trả công cho S số tiền 1.000.000 đồng. Khi có được các tài khoản ngân hàng và thẻ ATM, H1 giao cho L quản lý.

2

Hàng ngày, L, H1, M và Q sử dụng máy tính cá nhân, điện thoại di động (ĐTDĐ) đăng nhập, nghiên cứu lịch sử quan hệ liên kết của các tài khoản “Thao Vu”, “Thuy Nguyen”, “Do Dieu L2” và các tài khoản facebook khác để mạo danh nhắn tin gạ mượn tiền, trả tiền mua hàng hoặc câu nhử lấy được thông tin mật khẩu, mã OTP của bị hại để chiếm đoạt tiền chuyển vào tài khoản tại các ngân hàng do H2 và N đứng tên. Sau khi có tiền, L phân công cho Đ ra các trụ ATM của các ngân hàng rút tiền đem về cho L để chia nhau tiêu xài hoặc nạp tiền vào tài khoản trò chơi game Kingfun của L. Đối với các bị cáo trực tiếp tham gia vào vụ lừa đảo cụ thể nào thì sẽ được chia tiền của vụ đó, không tham gia thì không được chia tiền. Các bị cáo Lê Hải L, Cao Trần Duy H1, Hoàng Minh Q, Mai Nhật M và Nguyễn Minh Đ đã thực hiện 06 vụ lừa đảo chiếm đoạt được tổng số tiền 329.350.000 đồng của các bị hại, cụ thể như sau:

Vụ thứ nhất:

Khoảng 16 giờ ngày 11/6/2020, Cao Trần Duy H1 đăng nhập vào tài khoản facebook chiếm đoạt được có tên “Thao Vu”, sau khi đăng nhập được vào tài khoản này bằng máy tính, qua phần tin nhắn, H1 biết chủ tài khoản facebook này đang sinh sống tại Mỹ, có người thân là anh Trần Trọng B nên H1 nhắn tin đề nghị anh B cho “Thao Vu” mượn tiền ủng hộ từ thiện tại Việt Nam và cung cấp số tài khoản mang tên N. Anh B tin tưởng đã chuyển số tiền 6.000.000 đồng từ tài khoản 12410000391919 tại Ngân hàng Đ1 (B2) của anh B đến tài khoản mang tên N. Sau đó, Hoàng Minh Q sử dụng máy tính của H1 tiếp tục mạo danh “Thao Vu” nhắn tin lừa đảo mượn tiền của anh B và Q đã lừa được của anh B 5.200.000 đồng, tiền được chuyển vào số tài khoản ngân hàng tên N, do L quản lý. Vụ này L hưởng lợi 4.900.000 đồng, H1 được 3.000.000 đồng, Q được 2.800.000 đồng, M được 500.000 đồng.

Vụ thứ hai:

Khoảng 15 giờ ngày 12/6/2020, H1 sử dụng tài khoản facebook chiếm đoạt được có tên “Do Dieu L2”, giả mạo L2 nhắn tin cho chị Trần Thị Hồng T1 với nội dung “em còn tiền chuyển khoản 2 triệu, chị nhờ chuyển giùm qua số tài khoản 12999907 Vo Thi H cho con bạn dùm, sáng mai chị gửi lại, tài khoản chị mới chuyển 100 triệu nên hết hạn mức chuyển”. Chị T1 tưởng thật nên đã sử dụng số tài khoản của mình số 0291000286061 tại ngân hàng N2 - Chi nhánh G2 chuyển internet banking đến tài khoản tên N số tiền 2.000.000 đồng. Trong vụ này, một mình H1 hưởng lợi số tiền trên.

Vụ thứ ba:

Khoảng 18 giờ ngày 12/6/2020, L và H1 sử dụng tài khoản facebook chiếm đoạt được có tên “Thao Vu” (đang sinh sống tại Mỹ), có người thân là anh Đinh Trọng A, nhắn tin mạo danh là “Thao Vu” nhờ anh A chuyển số tiền 5.000.000 đồng cho hội từ thiện giùm mình. Sau đó, anh A được hướng dẫn cách thức đăng nhập vào trang mạng chuyển tiền nhanh giả mạo (https://WesternUnion.weebly.com/otp/htmlu). Sau khi anh A đăng nhập theo mẫu gồm số điện thoại, mật khẩu, số tài khoản, mã OTP ngân hàng thì nhóm L sao lưu được thông tin ngân hàng của anh A. Sau đó, L nhập mã OTP chuyển

3

2.100.000 đồng vào tài khoản tên N, anh A phát hiện số tài khoản 020086346691 tại ngân hàng TMCP S2 (S1) của mình bị trừ số tiền 2.100.000 đồng với nội dung “chuyển tiền quốc tế đến tài khoản tên Vo Thi Huynh N1", biết bị lừa, anh A thông báo cho ngân hàng trên để ngăn chặn thiệt hại. Vụ này, L và H1 mỗi người hưởng lợi 1.000.000 đồng.

Vụ thứ tư:

Ngày 26/6/2020, Cao Trần Duy H1 sử dụng máy tính đăng nhập vào tài khoản facebook có tên “Thuy Nguyen”. Qua thông tin, H1 biết người này đang sinh sống tại Mỹ, là bạn của người có nick facebook “Tuyetanh” (Nguyễn Thị Tuyết A1). Hân nhắn tin mạo danh “Thuy Nguyen” nhờ chuyển 5.000.000 đồng làm từ thiện cho trẻ mồ côi mái ấm Mai  thì chị Tuyết A1 đồng ý. H1 yêu cầu chị A1 đăng nhập vào trang chuyển tiền giả mạo ( https://transfermoney.weebly.com/otp.htmlu và thực hiện theo hướng dẫn là cung cấp tên truy cập, mật khẩu truy cập, mã OTP để xác định việc chuyển tiền. Sau đó, L sao lưu lấy được thông tin tài khoản, mật khẩu và mã OTP của chị Tuyết Al tại Ngân hàng T4 rồi sử dụng điện thoại di động đăng nhập trang internet banking chuyển số tiền 200.000.000 đồng của chị Tuyết A1 đến tài khoản tên H2. Sau khi chiếm đoạt được tiền, L giao thẻ ATM (mang tên H2) cho Đ đến các trụ ATM của Ngân hàng S1 rút được 80.000.000 đồng về chia nhau, H1 được chia 45.000.000 đồng, L được 30.000.000 đồng, Đ được chia 10.000.000 đồng. Số tiền 120.000.000 đồng còn lại, L và H1 mua điểm trong game KingFun rồi đổi cho đại lý game được 96.000.000 đồng chia nhau tiêu xài. Sau đó, H1 cho Q mượn 10.000.000 đồng, còn L cho M 2.000.000 đồng để tiêu xài. Đối với vụ lừa đảo chiếm đoạt tiền này, Q và M không biết L và H1 thực hiện hành vi phạm tội.

Vụ thứ năm:

Qua xác minh tại các ngân hàng, vào ngày 10/6/2020 tài khoản tên H2, nhận số tiền 17.000.000 đồng từ tài khoản số 61610000059532 của Ngân hàng Đ1 chi nhánh N3 (B2) do chị Nguyễn Thị Diễm H3 đứng tên chủ tài khoản. Năm 2020, chị Nguyễn Thị Diễm H3 có sử dụng tài khoản facebook tên dùng là “Diem Huong” và kinh doanh nấm mối đen mua bán trên các mạng facebook, zalo, messenger qua số điện thoại 039684671 và nhận tiền qua số tài khoản 61610000059532 của Ngân hàng Đ1 - chi nhánh N3. Ngày 09/6/2020, chị H3 nhận được tin nhắn của một người trên messeger cho biết đang sinh sống ở nước ngoài và muốn mua nấm biếu cho gia đình ở Việt Nam. Sau khi thỏa thuận giá 300.000 đồng/kg, người này đặt mua 08 kg, tổng số tiền là 2.400.000 đồng và chuyển tiền vào tài khoản cho chị H3. Sau đó, người này nhắn tin và gửi 01 đường link (từ Bond SMS.com và gửi 01 đường link http://chuyentien-quocte247vn.weebly.com hướng dẫn chị H3 đăng nhập để nhận tiền hàng. Chị H3 làm theo hướng dẫn đăng nhập thông tin tài khoản, mật khẩu, xác nhận mã OTP theo biểu mẫu có sẵn thì ngay lúc đó chị H3 nhận được tin nhắn từ ngân hàng B2 thông báo trên điện thoại “bị trừ số tiền 17.000.000 đồng trong tài khoản” và số tiền này được chuyển đến số tài khoản tên H2. Biết bị lừa, chị H3 đã làm thủ tục đóng tài khoản và đổi mã OTP mới.

4

Vụ thứ sáu:

Qua xác minh tại các ngân hàng, vào ngày 23/6/2020 tài khoản tên H2, nhận số tiền 97.000.000 đồng từ tài khoản 2210102231009 của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q1 (M1) do chị Nguyễn Ngọc T2 đứng tên chủ tài khoản.

Ghi lời khai chị Nguyễn Ngọc T2 trình bày: Khoảng 17 giờ 54 phút ngày 14/6/2020, chị T2 đang ở khu C tại Thành phố Hà Nội (do đi từ Mỹ về Việt Nam) thì nhận được tin nhắn thể hiện nội dung “M1.vn@aol.com chuyển tiền 50.000.000 đồng từ số tài khoản của chị H3. Nhập OTP 76526393 để xác nhận giao dịch” và hướng dẫn cách thức đăng nhập vào trang mạng chuyển tiền giả mạo (https://WesternUnion.weebly.com/otp/htmlu.) Thấy bất thường, chị T2 không nhập mã OTP và đã gọi cho ngân hàng để ngăn chặn giao dịch. Đến khoảng 12 giờ 52 phút ngày 23/6/2020, chị T2 đang làm thủ tục ra khỏi khu cách ly thì nhận được tin nhắn của ngân hàng M2 với nội dung “M1.vn@aol.com nhắn tin chuyển tiền 97.000.000 đồng từ tài khoản của bạn. Nhập OTP 32666814 để xác nhận giao dịch”, thấy bất thường nên chị T2 không nhập mã OTP.

Tuy nhiên, khoảng 01 phút sau, chị T2 nhận được tin nhắn qua email của ngân hàng ghi “M1.vn@aol.com” với nội dung “để hủy giao dịch khách hàng nhắn tin Huy OTP”. Lúc này, chị T2 nhầm tưởng bên ngân hàng thông báo nên nhắn tin “HUY OTP”, vừa nhắn tin xong, chị T2 nhận được tin nhắn của ngân hàng “Bạn đã thực hiện chuyển tiền 97.000.000 đồng từ tài khoản 62092603 để xác nhận giao dịch. OTP có hiệu lực 2 phút, không cung cấp OTP cho bất kỳ ai”. Biết bị lừa số tiền trên, chị T2 gọi ngay cho ngân hàng để ngăn chặn nhưng số tiền trên đã được chuyển đến tài khoản tên H2.

Cao Trần Duy H1 khai nhận các vụ chiếm đoạt số tiền 17.000.000 đồng của chị Nguyễn Thị Diễm H3 (vụ thứ năm) và 97.000.000 đồng của chị Nguyễn Ngọc T2 (vụ thứ sáu) do một mình Lê Hải L thực hiện. Các bị cáo Mai Nhật M, Hoàng Minh Q, Nguyễn Minh Đ xác định không biết việc này. Sau khi bị bắt, các bị cáo nghe H1 nói lại là do Lê Hải L thực hiện một mình. Tuy nhiên, Lê Hải L không thừa nhận việc đã chiếm đoạt số tiền 17.000.000 đồng của chị H3 và 97.000.000 đồng của chị T2.

Ngoài ra, tài khoản tên H2 còn nhận tiền từ các tài khoản khác:

  • - Ngày 15/6/2020, nhận từ tài khoản số 0261003467121 của Ngân hàng TMCP N2 (N2) 700.000 đồng. Qua xác minh, số tài khoản này do chị Lê Thị V (sinh năm 1984, trú tại T, thị trấn Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên) đứng tên đăng ký mở tài khoản;
  • - Ngày 16/6/2020, nhận từ tài khoản số tài khoản 107870404641 của Ngân hàng TMCP C (V1) 10.000.000 đồng. Qua xác minh, tài khoản này cũng do chị Lê Thị V đứng tên đăng ký mở tài khoản.

Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra quyết định ủy thác điều tra cho Công an huyện P, tỉnh Thái Nguyên tiến hành lấy lời khai chị Lê Thị V làm rõ nội dung giao dịch chuyển tiền như trên, nhưng đến nay chưa nhận được kết quả.

5

  • - Ngày 16/6/2020, nhận từ tài khoản số 10071001076971 của Ngân hàng TMCP N2 (V2) 20.000.000 đồng. Qua xác minh, tài khoản này do anh Võ Anh T3 (sinh năm 1985, trú tại 1 T, Phường C, Quận E) giao dịch, chuyển số tiền 20.000.000 đồng vào tài khoản tên H2. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã xác minh, triệu tập anh Võ Anh T3 để ghi lời khai làm rõ nhưng anh T3 không đến làm việc, hiện không có mặt tại địa phương;
  • - Ngày 16/6/2020, nhận từ tài khoản số 8503205150509 của Ngân hàng N4 (A2) 1.800.000 đồng. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã xác minh các thông tin liên quan, nhưng đến nay chưa có kết quả.

Cơ quan Cảnh sát điều tra đã đề nghị Báo Công an Thành phố H và Cổng thông tin điện tử Công an Thành phố H đăng tin tìm người bị hại Võ Anh T3, Lê Thị V và người liên quan Võ Thị Huỳnh N, Lê Thúy H4 nhưng đến nay chưa có kết quả.

Tài khoản số 19035960734016 của Ngân hàng TMCP K (T4) do chị Lê Thúy H4 (sinh năm 1997, trú tại F khu phố D, Phường A, thành phố M, tỉnh tiền G) đứng tên: ngày 12/6/2020 đã nhận số tiền 800.000 đồng từ tài khoản tên N và ngày 17/6/2020 nhận 02 lần tổng số tiền 27.500.000 đồng từ tài khoản tên H2.

Cơ quan Cảnh sát điều tra đã triệu tập, xác minh đương sự Lê Thúy H4 để ghi lời khai nhưng hiện đương sự không có mặt tại địa phương.

Ngày 07/7/2020, Lê Hải L bị Công an quận G bắt quả tang về hành vi “Tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy”, ngày 10/7/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận G ra Quyết định khởi tố bị can và lệnh tạm giam đối với L về tội danh trên.

Ngày 16/7/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ C1 ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự, quyết định khởi tố bị can và lệnh tạm giam đối với Cao Trần Duy H1, Hoàng Minh Q, Mai Nhật M, Nguyễn Minh Đ và ra Quyết định khởi tố bị can đối với Lê Hải L về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Tiến hành ghi lời khai, Đoàn Vĩnh H2 trình bày vào ngày 08/6/2020 có đứng tên mở tài khoản, thẻ rút tiền ATM rồi giao cho Cao Trần Duy H1 và được trả công 500.000 đồng, H2 không biết H1 sử dụng số tài khoản trên vào mục đích lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người khác, phù hợp với lời khai của Cao Trân Duy H5 (bút lục 458-459-460).

Đối với Võ Thị Huỳnh N, qua xác minh tại nơi có hộ khẩu thường trú (xã T, huyện G, tỉnh Tiền Giang) đương sự không có mặt tại địa phương, không rõ ở đâu nên chưa lấy lời khai làm rõ việc N đồng ý mở tài khoản ngân hàng đưa cho H5 sử dụng như thế nào. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã đăng tin truy tìm nhưng chưa có kết quả (bút lục 475). Đối với đối tượng tên S, do chưa xác định được nhân thân lai lịch nên chưa xác minh, truy tìm, ghi lời khai làm rõ mục đích dùng chứng minh nhân dân của N để mở tài khoản ngân hàng cho H5 sử dụng vào mục đích phạm tội.

6

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, các bị cáo Cao Trần Duy H1, Hoàng Minh Q, Mai Nhật M, Nguyễn Minh Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nêu trên. Đối với vụ lừa đảo chiếm đoạt 17.000.000 đồng của chị Nguyễn Thị Diễm H3 (vụ thứ năm) và chiếm đoạt 97.000.000 đồng của chị Nguyễn Ngọc T2 (vụ thứ sáu) do một mình Lê Hải L thực hiện, không chia tiền cho H1, Q, M và Đ. Số tiền các bị can hưởng lợi thông qua việc lừa đảo cụ thể như sau: H1 hưởng lợi 51.000.000 đồng, Q hưởng lợi 2.800.000 đồng và mượn của H1 10.000.000 đồng (tổng cộng là 12.800.000 đồng), Đ hưởng lợi 10.000.000 đồng, M hưởng lợi 500.000 đồng và được L cho 2.000.000 đồng (tổng cộng là 2.500.000 đồng). (bút lục 1922-1939, 2007-2010, 2441-2448, 2483, 2484, 2488-2493).

Riêng bị cáo Lê Hải L ban đầu thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nêu trên (bút lục 445-453, 1802-1804), nhưng sau đó bị can phủ nhận toàn bộ lời khai trước đó (bút lục 2011-2012, 2485, 2486). Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành cho L đối chất với các bị can H1, Q, M và Đ, các bị can vẫn giữ nguyên lời khai (bút lục 1908-1921).

Vật chứng thu giữ: Có bảng kê kèm theo Cáo trạng.

Về bồi thường dân sự: Chị Nguyễn Ngọc T2 yêu cầu bồi thường 97.000.000 đồng (bút lục 1739), chị Trần Thị Hồng T1 yêu cầu bồi thường 2.000.000 đồng (bút lục 612-615), chị Nguyễn Thị Diễm H3 yêu cầu bồi thường 17.000.000 đồng (bút lục 800-802), anh Đinh Trọng A yêu cầu được bồi thường 2.100.000 đồng (bút lục 648, 649), chị Nguyễn Thị Tuyết A1 yêu cầu bồi thường 200.000 đồng (bút lục 189-495), anh Trần Trọng B yêu cầu bồi thường 11.200.000 đồng (bút lục 509-511), tổng cộng 329.300.000 đồng. Các bị can chưa bồi thường.

* Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 558/2023/HSST ngày 28 tháng 11 năm 2023, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh quyết định:

Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 174; các điểm a, g, h khoản 1 Điều 52 và Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015: kết án bị cáo Lê Hải L 12 (mười hai) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 07/01/2022.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về tội danh và hình phạt của các bị cáo: Cao Trần Duy H1, Nguyễn Minh Đ, Mai Nhật M, Hoàng Minh Q; tuyên miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo; tuyên về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

* Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 04/12/2023 bị cáo Lê Hải L kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt với lý do mức án áp dụng đối với bị cáo là quá nặng và chưa đúng tính chất, hành vi mà bị cáo thực hiện.

* Tại phiên tòa phúc thẩm

Bị cáo Lê Hải L vẫn giữ yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, bị cáo thừa nhận có thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của các bị hại tại vụ thứ 1 và vụ thứ 4 như bản án cấp sơ thẩm quy kết, tuy nhiên, bị cáo không phải là người

7

chủ mưu, cầm đầu, bị cáo không biết và không đồng phạm với các bị cáo khác trong các lần chiếm đoạt khác.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố H bày:

Về tội danh, L3 khai nhận tội ban đầu của bị cáo Lê Hải L phù hợp với lời khai của các bị cáo khác, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án nên có đủ căn cứ để xác định bị cáo Lê Hải L rủ rê bị cáo Cao Trần Duy H1 cùng với các bị cáo Nguyễn Minh Đ, Mai Nhật M và Hoàng Minh Q cùng nhau chiếm đoạt các tài khoản mạng xã hội, đăng nhập vào tài khoản rồi liên hệ với người thân, bạn của họ để mượn tiền, chuyển tiền từ thiện, mua hàng trực tuyến..., người bị hại tưởng thật sẽ chuyển tiền tới các tài khoản do các bị cáo chỉ định, hoặc đăng nhập vào các trang mạng chuyển tiền giả mạo do bị cáo L lập ra, khi đăng nhập vào các trang mạng giả mạo này thì tài khoản ngân hàng của người bị hại bị lộ và các bị cáo sẽ chiếm đoạt bằng cách chuyển tiền về tài khoản của các bị cáo, tổng số tiền mà các bị cáo chiếm đoạt là 329.350.000 đồng. Tòa án cấp sơ thẩm xác định Lê Hải L phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 3 Điều 174 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, không oan sai.

Về mức hình phạt, Bị cáo Lê Hải L có nhân thân xấu, phạm tội thuộc trường hợp tái phạm, phạm tội có tổ chức và thực hiện hành vi phạm tội hai lần trở lên nên mức hình phạt 12 năm tù mà Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng đối với bị cáo là phù hợp. Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhưng không có tình tiết giảm nhẹ nào mới mà Tòa án cấp sơ thẩm chưa áp dụng nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Luật sư bào chữa cho bị cáo Lê Hải L trình bày: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo, xem xét lại số lần bị cáo thực hiện việc chiếm đoạt, xác định lại số tiền bị cáo chiếm đoạt, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo Lê Hải L làm trong hạn luật định, là hợp lệ nên được Hội đồng xét xử xem xét theo thủ tục phúc thẩm. Bị cáo Lê Hải L kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt với lý do hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng đối với bị cáo là quá nặng, không tương xứng với tính chất, mức độ hành vi của bị cáo đã thực hiện.

[2] Về nội dung:

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Lê Hải L chỉ thừa nhận hành vi chiếm đoạt tài sản lần thứ nhất (đối với bị hại Trần Trọng B) và lần thứ 04 (đối với bị hại Nguyễn Thị Tuyết A1). Bị cáo Lê Hải L cho rằng các lời khai nhận tội của bị cáo trong quá trình điều tra là do bị điều tra viên đánh và mớm cung. Tuy nhiên, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã ban hành Quyết định trả hồ sơ để

8

điều tra bổ sung số 224/2023/HSST-QĐ ngày 27/6/2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồ Chí Minh đã ban hành Quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung số 543/QĐ-VKS-P2 ngày 20/7/2023 để giải quyết khiếu nại về hành vi tố tụng của người tiến hành tố tụng trong giai đoạn điều tra như khiếu nại của bị cáo Lê Hải L, từ đó, xác minh làm rõ có hay không việc bị cáo L bị đánh, ép cung, mớm cung như khiếu nại của bị cáo. Kết quả điều tra xác minh, Cơ quan điều tra không chấp nhận toàn bộ nội dung khiếu nại của bị cáo Lê Hải L về việc bị người tiến hành tố tụng dùng nhục hình, ép cung, mớm cung để L khai báo.

Mặt khác, lời khai của các bị cáo Cao Trần Duy H1, Mai Nhật M, Hoàng Minh Q, Nguyễn Minh Đ tại phiên tòa sơ thẩm đều phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của các bị cáo này tại Cơ quan điều tra, các vật chứng thu thập được, cùng các tài liệu chứng cứ khác do Cơ quan điều tra thu thập có trong hồ sơ của vụ án. Đồng thời, lời khai nhận của bị cáo Lê Hải L (tại các bút lục 447-448, 449-452, 2011-2012, 2485, 2486) cũng phù hợp với lời khai nhận tội của các bị cáo còn lại và những tài liệu, chứng cứ, vật chứng thu thập được.

Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định:

Bị cáo Lê Hải L rủ rê bị cáo Cao Trần Duy H1 cùng với các bị cáo Nguyễn Minh Đ, Mai Nhật M và Hoàng Minh Q cùng nhau chiếm đoạt các tài khoản mạng xã hội, đăng nhập vào tài khoản rồi liên hệ với người thân, bạn của họ để mượn tiền, chuyển tiền từ thiện, mua hàng trực tuyến..., người bị hại tưởng thật sẽ chuyển tiền tới các tài khoản do các bị cáo chỉ định, hoặc đăng nhập vào các trang mạng chuyển tiền giả mạo do bị cáo L lập ra, khi đăng nhập vào các trang mạng giả mạo này thì tài khoản ngân hàng của người bị hại bị lộ và các bị cáo sẽ chiếm đoạt bằng cách chuyển tiền về tài khoản của các bị cáo. Sau khi tiền về tài khoản, bị cáo L chỉ đạo và đưa thẻ ATM để phân công các bị cáo rút tiền, các bị cáo thực hiện vụ nào thì sẽ được chia tiền vụ đó. Bị cáo Lê Hải L với vai trò chủ mưu, thực hiện việc hack (chiếm đoạt) tài khoản facebook của người khác, sau đó giao lại các tài khoản đã bị hack cho các bị cáo H1, M, Q để mạo danh các tài khoản này để chiếm đoạt tiền; bị cáo L chỉ đạo bị cáo M hoặc Đ đi rút tiền tại các trụ ATM về đưa lại cho bị cáo L, bị cáo L chia tiền cho các bị cáo tham gia. Các bị cáo đã chiếm đoạt của 06 người bị hại bị với tổng số tiền là 329.350.000 đồng.

Bị cáo Lê Hải L tham gia thực hiện cả 06 vụ chiếm đoạt số tiền 329.350.000 đồng nên Tòa án cấp sơ thẩm xác định hành vi của bị cáo Lê Hải L đã phạm vào tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, thuộc trường hợp “Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng”, là tình tiết định khung hình phạt quy định tại điểm a khoản 3 Điều 174 Bộ luật hình sự 2015 là có căn cứ, đúng pháp luật. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những đã xâm phạm đến tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ mà còn gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội.

Bị cáo Lê Hải L cùng các bị cáo khác gồm Cao Trần Duy H1, Nguyễn Minh Đ, Mai Nhật M và Hoàng Minh Q phạm tội thuộc trường hợp có tổ chức, hành vi phạm tội của các bị cáo có sự tinh vi, phức tạp, có sự cấu kết chặt chẽ,

9

có bàn bạc, chủ động tiếp nhận ý chí của người cầm đầu, có phân công nhiệm vụ, công việc cụ thể và số tiền được chia cũng thể hiện được tính chất, vai trò của từng bị cáo tham gia vào vụ án, nên Tòa án cấp sơ thẩm xác định hành vi phạm tội của bị cáo L thuộc trường hợp phạm tội “có tổ chức” quy định tại điểm a khoản 2 Điều 174 Bộ luật hình sự 2015 là phù hợp. Trong vụ án này, bị cáo Lê Hải L là người cầm đầu, chủ mưu, trực tiếp thực hiện tội phạm. Bị cáo Lê Hải L thực hiện hành vi phạm tội 06 lần, thuộc trường hợp “Phạm tội 2 lần trở lên”, là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự 2015.

Bị cáo Lê Hải L đã bị Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị kết án về tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản”, chưa được xóa án tích mà lại tiếp tục phạm tội, qua đó, thể hiện thái độ xem thường pháp luật của bị cáo, lần phạm tội này của bị cáo được xác định là “tái phạm”, là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự 2015.

Trên những cơ sở đó, Tòa án cấp sơ thẩm kết án Lê Hải L 12 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” là tương xứng với tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi mà bị cáo thực hiện. Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhưng không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ nào mới mà chưa được Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo.

[3] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[4] Đề nghị của Luật sư bào chữa cho bị cáo Lê Hải L không phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên không được chấp nhận.

[5] Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo Lê Hải L phải chịu án phí hình sự phúc thẩm

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự,

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Khóa XIV quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Xử:

  1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Hải L.
  2. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số: 558/2023/HSST ngày 28 tháng 11 năm 2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh như sau:

Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 174; các điểm a, g, h khoản 1 Điều 52 và Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;

10

Xử phạt:

Bị cáo Lê Hải L 12 (mười hai) năm tù, về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 07/01/2022.

  1. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  2. Bị cáo Lê Hải L phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
  3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao;
  • - VKSND cấp cao tại TP.HCM;
  • - TAND TPHCM;
  • - VKSND TPHCM;
  • - Cục THADS TPHCM;
  • - Công an TPHCM;
  • - Sở Tư pháp TPHCM;
  • - Trại tạm giam CA TPHCM;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu VP, HS ĐLN.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Thị Thu

11

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 275/2024/HS-PT ngày 22/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự

  • Số bản án: 275/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 22/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Hải L kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger