Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 275/2024/DS-ST

Ngày: 20-11-2024

Về tranh chấp Hợp đồng đặt cọc

mua bán nhà.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Đoàn Thanh Trúc

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Bà Đinh Kim Hoàng.

2/ Bà Võ Thanh Nga.

Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Tuấn - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Lý - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 15, 18, 19 và ngày 20 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 168/2023/TLST-DS ngày 10 tháng 10 năm 2023 về việc tranh chấp “Hợp đồng đặt cọc mua bán nhà” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 1034/2024/QĐXXST-DS ngày 18 tháng 10 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1958

Địa chỉ: A L, Tổ B, Khu Phố B, Phường T, Quận G,Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Chí T, sinh năm 1983 “có mặt”.

(Giấy ủy quyền số 001499 do Văn phòng C chứng nhận lập ngày 27/01/2021).

Bị đơn: Bà Huỳnh Mỹ L, sinh năm 1973 “vắng mặt”.

Địa chỉ: G B, Phường C, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn ông Nguyễn Chí T trình bày: Bà Huỳnh Mỹ L là người mua căn hộ số A, Tầng C, Tòa nhà A3 thuộc dự án Cao ốc H số C B, Phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh theo Hợp đồng mua bán căn hộ số A3.3315/2015/HĐMB/MD-TGV ngày 05/11/2015 với Công ty Cổ phần M1.

Ngày 02/01/2020, bà Huỳnh Mỹ L ký Hợp đồng đặt cọc để chuyển nhượng căn hộ trên cho ông Nguyễn Văn M. Theo đó, bà Huỳnh Mỹ L và ông Nguyễn Văn M thỏa thuận như sau: Giá chuyển nhượng mua bán căn hộ là 5.000.000.000 đồng, số tiền đặt cọc là 2.000.000.000 đồng, thời hạn đặt cọc là 02 năm. Quá trình thực hiện hợp đồng, ông Nguyễn Văn M đã giao đủ tiền đặt cọc cho bà Huỳnh Mỹ L là 2.000.000.000 đồng. Khi ký kết hợp đồng đặt cọc, bà Huỳnh Mỹ L cho biết là hiện nay bà đang thế chấp căn hộ số A3.3315, Tầng C, Tòa nhà A3 thuộc dự án Cao ốc H số C B, Phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh tại Ngân hàng TMCP H. Do đó, bà Huỳnh Mỹ L cam kết sẽ trả nợ hết ngân hàng và giải chấp để thực hiện việc chuyển nhượng căn hộ nêu trên cho ông Nguyễn Văn M trong thời hạn cam kết. Do tin tưởng nên ông Nguyễn Văn M đã đồng ý với cam kết của bà Huỳnh Mỹ L. Tuy nhiên, sau khi nhận đủ tiền đặt cọc, bà Huỳnh Mỹ L cố tình né tránh và không thực hiện việc chuyển nhượng căn hộ số A3.3315, Tầng C, Tòa nhà A3 thuộc dự án Cao ốc H số C B, Phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh cho ông Nguyễn Văn M. Qua tìm hiểu và được biết, bà Huỳnh Mỹ L đã thực hiện xong việc giải chấp căn hộ trên tại Ngân hàng TMCP H, đồng thời cũng đã chuyển nhượng căn hộ trên cho người khác từ tháng 07 năm 2020. Nhận thấy quyền lợi bị xâm phạm, ông Nguyễn Văn M khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh giải quyết những vấn đề sau đây:

  1. Buộc bà Huỳnh Mỹ L trả lại số tiền đã nhận cọc là 2.000.000.000 đồng.
  2. Buộc bà Huỳnh Mỹ L bồi thường số tiền 2.000.000.000 đồng do vi phạm hợp đồng đã ký kết.

Tổng cộng là 4.000.000.000 đồng. Thanh toán ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Bị đơn bà Huỳnh Mỹ L vắng mặt nên không có lời trình bày tại Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:

  1. Về tố tụng:

Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến trước khi xét xử thì Thẩm phán đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán theo quy định tại Điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự. Trong quá trình giải quyết Thẩm phán đã thực hiện đúng, đầy đủ việc cấp, tống đạt văn bản tố tụng cho đương sự đúng theo quy định tại các Điều 170, Điều 171 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; thực hiện đúng về thời hạn đưa vụ án ra xét xử theo điểm a khoản 1 Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Tòa án thu thập chứng cứ, lấy lời khai của đương sự, tiến hành theo đúng quy định tại Điều 97 Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử đã tuân thủ nguyên tắc xét xử về phiên tòa sơ thẩm được quy định tại Điều 222, Điều 223 Bộ luật tố tụng dân sự. Quá trình xét xử, Chủ tọa phiên tòa đã đảm bảo cho các đương sự phát biểu trình bày quan điểm theo quy định tại Điều 247 Bộ luật tố tụng dân sự.

  1. Về nội dung:

Căn cứ Hợp đồng mua bán căn hộ chung cư dự án cao ốc H số A3.3315/2015/HĐMB/MD-TGV giữa Công ty cổ phần M1 và bà Huỳnh Mỹ L đối với căn hộ số A3.3315 Tầng C, Tháp A, ngày 05/11/2015. Ngày 02/01/2020, bà Huỳnh Mỹ L và ông Nguyễn Văn M ký kết Hợp đồng đặt cọc để đảm bảo cho việc mua bán chuyển nhượng toàn bộ căn hộ số A Tầng C, Tháp A thuộc dự án Cao ốc H số C B, Phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh. Theo đó, ông Nguyễn Văn M đã đặt cọc cho bà Huỳnh Mỹ L số tiền là 2.000.000.000 đồng, thời hạn đặt cọc là 02 năm. Mục đích là bà Huỳnh Mỹ L nhận tiền cọc và cam kết chuyển nhượng toàn bộ căn hộ nêu trên thuộc quyền sử dụng, quyền sở hữu hợp pháp của bà Huỳnh Mỹ L và không có bất kỳ tranh chấp nào tại căn hộ S Tầng C, Tháp A thuộc dự án Cao ốc H, số C B, Phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh cho ông Nguyễn Văn M với giá chuyển nhượng là 5.000.000.000 đồng. Trong thời gian đặt cọc, bà Huỳnh Mỹ L cam kết sẽ làm các thủ tục pháp lý để chuyển nhượng toàn bộ căn hộ số A Tầng C Tháp A thuộc dự án Cao ốc H B, Phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh cho ông Nguyễn Văn M.

Tại Điều 4 Hợp đồng đặt cọc ngày 02/01/2020 quy định trách nhiệm do vi phạm hợp đồng như sau: “Nếu Bên A bà Huỳnh Mỹ L không tiến hành thủ tục chuyển nhượng/mua bán theo như thỏa thuận tại Hợp đồng này thì sẽ trả lại số tiền đặt cọc cho Bên B - ông Nguyễn Văn M đồng thời bồi thường số tiền bằng tiền đã đặt cọc; Ngược lại nếu Bên B không đồng ý tiến hành thủ tục nhận chuyển nhượng tiếp thì sẽ chịu mất số tiền đã đặt cọc”.

Căn cứ Hợp đồng thế chấp tài sản hình thành trong tương lai số A3.3315/2015/BĐ ngày 28/11/2015 giữa bên bảo đảm là bà Huỳnh Mỹ L với bên nhận bảo đảm là Ngân hàng TMCP H. Theo đó, bà Huỳnh Mỹ L đồng ý thế chấp tài sản là căn hộ chung cư hình thành trong tương lai nêu trên thuộc quyền sử dụng của bà để bảo đảm nghĩa vụ trả nợ tại Ngân hàng TMCP H.

Cũng ngày 28/11/2015, bà Huỳnh Mỹ L và Ngân hàng TMCP H đã cùng nhau ký kết thực hiện Hợp đồng cho vay số A.3315/CVCN ngày 28/11/2015 đối với tài sản trên, số tiền vay là 2.906.000.000 đồng. Thời hạn vay là 240 tháng, mục đích khoản vay là thanh toán một phần chi phí mua căn hộ số A3.3315 Tầng C Tòa nhà A3 thuộc Dự án Cao ốc H, số C B, Phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh. Hình thức trả gốc và lãi hàng tháng. Ngày 30/11/2015, bà Huỳnh Mỹ L đã ký Khế ước nhận nợ số A3. 3315.1/2015/CVCN tại Ngân hàng TMCP H với số tiền là 2.906.000.000 đồng.

Theo văn bản số 580/2024/CV-CHA ngày 11/9/2024 của Ngân hàng TMCP H cung cấp thông tin liên quan đến tài sản thế chấp là căn hộ số A3.3315; Tầng C; Tòa nhà A3 thuộc dự án Cao ốc H số C B, Phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh thuộc quyền sở hữu của bà Huỳnh Mỹ L theo Hợp đồng cho vay số A3.3315/CVCN ngày 28/11/2015 với Ngân hàng TMCP H đã thực hiện tất toán vào ngày 13/7/2020.

Xét yêu cầu của ông Nguyễn Văn M buộc bà Huỳnh Mỹ L phải trả lại cho ông số tiền đã đặt cọc là 2.000.000.000 đồng và bồi thường tiền cọc số tiền là 2.000.000.000 đồng.

Theo lời khai của ông Nguyễn Văn M khi ký kết Hợp đồng đặt cọc số tiền 2.000.000.000 đồng cho bà Huỳnh Mỹ L thì bà L có thông báo cho ông biết là căn hộ số A3.3315; Tầng C; Tháp A3 thuộc dự án Cao ốc H số C B, Phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh đang thế chấp tại ngân hàng và việc đặt cọc số tiền này có thời hạn là 02 năm sau khi bà L thực hiện thủ tục giải chấp sẽ ký kết việc chuyển nhượng cho ông M.

Xét thấy, Hợp đồng đặt cọc được ông Nguyễn Văn M và bà Huỳnh Mỹ L giao kết vào ngày 02/01/2020. Đến ngày 05/4/2021, ông Nguyễn Văn M có đơn khởi kiện bà Huỳnh Mỹ L thì Hợp đồng chưa đến hạn do hai bên thỏa thuận Hợp đồng đặt cọc có thời hạn là 02 năm. Tuy nhiên, đến thời điểm xét xử là ngày 15/11/2024 thì thời hạn này đã quá 02 năm và Theo văn bản số 580/2024/CV-CHA ngày 11/9/2024 của Ngân hàng TMCP H cung cấp thông tin liên quan đến tài sản thế chấp là căn hộ số A3.3315; Tầng C; Tòa nhà A3 thuộc Dự án Cao ốc H số C B, Phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh thuộc quyền sở hữu của bà Huỳnh Mỹ L theo Hợp đồng cho vay số A3.3315/CVCN ngày 28/11/2015 đã thực hiện tất toán vào ngày 13/7/2020. Như vậy, sau khi thực hiện việc giải chấp khoản vay Ngân hàng đến nay bà Huỳnh Mỹ L đã không thực hiện theo cam kết là bà Huỳnh Mỹ L đã vi phạm thỏa thuận tại Hợp đồng đặt cọc.

Tại Điều 4 quy định trách nhiệm do vi phạm hợp đồng như sau: “Nếu Bên A bà Huỳnh Mỹ L không tiến hành thủ tục chuyển nhượng/mua bán theo như thỏa thuận tại Hợp đồng này thì sẽ trả lại số tiền đặt cọc cho Bên B - ông Nguyễn Văn M đồng thời bồi thường số tiền bằng tiền đã đặt cọc; Ngược lại nếu Bên B không đồng ý tiến hành thủ tục nhận chuyển nhượng tiếp thì sẽ chịu mất số tiền đã đặt cọc”.

Xét thấy, Hợp đồng đặt cọc căn hộ số A3.3315; Tầng C; Tháp A3 thuộc Dự án Cao ốc H số C B, Phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh giữa bà Huỳnh Mỹ L và ông Nguyễn Văn M nhằm đảm bảo giao kết để thực hiện hợp đồng chuyển nhượng căn hộ số A3.3315; Tầng C; Tháp A3 thuộc dự án Cao ốc H số C B, Phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh giữa các bên nên được xác định là Hợp đồng độc lập và có hiệu lực. Do vậy, việc bà Huỳnh Mỹ L nhận đặt cọc sau đó giải chấp khoản nợ Ngân hàng nhưng không tiếp tục ký kết Hợp đồng chuyển nhượng căn hộ như đã thỏa thuận được xem là bà L đã từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng là vi phạm thỏa thuận tại Hợp đồng đặt cọc. Do vậy xác định đây là lỗi của bà Huỳnh Mỹ L.

Căn cứ khoản 2 Điều 328 Bộ luật dân sự quy định Đặt cọc như sau:

“Trường hợp hợp đồng được giao kết, thực hiện thì tài sản đặt cọc được trả lại cho bên đặt cọc hoặc được trừ để thực hiện nghĩa vụ trả tiền; nếu bên đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng thì tài sản đặt cọc thuộc về bên nhận đặt cọc; nếu bên nhận đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng thì phải trả cho bên đặt cọc tài sản đặt cọc và một khoản tiền tương đương giá trị tài sản đặt cọc, trừ trường hợp có thỏa thuận khác”.

Do vậy, yêu cầu của ông Nguyễn Văn M buộc bà Huỳnh Mỹ L trả lại cho ông số tiền cọc 2.000.000.000 đồng và yêu cầu bồi thường số tiền cọc là 2.000.000.000 đồng (hai tỷ đồng) là có cơ sở.

Bởi các lẽ trên, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên:

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn là ông Nguyễn Văn M như sau:

Buộc bà Huỳnh Thị Mỹ L phải thanh toán lại ông Nguyễn Văn M số tiền cọc là 2.000.000.000 đồng (hai tỷ đồng) và bồi thường số tiền tương đương với tiền cọc là 2.000.000.000 đồng (hai tỷ đồng) theo Hợp đồng đặt cọc ngày 02/01/2020.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn là bà Huỳnh Mỹ L phải chịu án phí đối với yêu cầu của ông Nguyễn Văn M được chấp nhận.

Việc tính toán cụ thể và chi tiết sẽ do Hội đồng xét xử quyết định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa và ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về pháp luật tố tụng:

1.1. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:

Xét, ông Nguyễn Văn M khởi kiện yêu cầu bà Huỳnh Mỹ L trả lại số tiền nhận cọc mua bán nhà đất là 2.000.000.000 đồng và tiền bồi thường do vi phạm hợp đồng đặt cọc là 2.000.000.000 đồng. Như vậy, quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án được xác định là tranh chấp “Hợp đồng đặt cọc mua bán nhà”. Đối tượng tranh chấp là bất động sản tọa lạc tại A, Tầng C, Tòa nhà A3 thuộc dự án Cao Ốc H, số C B, Phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh. Do đó, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại Điều 26, khoản 1 Điều 35 và điểm c khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

1.2. Về thủ tục tố tụng:

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thực hiện được việc tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị đơn đến tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không lý do. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp với quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/07/2016.

[2] Về pháp luật nội dung:

2.1. Xét yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn M về việc đề nghị bà Huỳnh Mỹ L trả lại tiền nhận cọc là 2.000.000.000 đồng:

Căn cứ vào lời khai và các chứng cứ do nguyên đơn cung cấp trong quá trình giải quyết đã được thẩm tra tại phiên tòa thể hiện: Ngày 02/01/2020, ông Nguyễn Văn M và bà Huỳnh Mỹ L ký kết Hợp đồng đặt cọc mua bán căn hộ số A3.3315, Tầng C, Tòa nhà A3 thuộc dự án Cao ốc H, số C B, Phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh. Hợp đồng được viết tay, không công chứng chứng thực, có nội dung ghi nhận giá chuyển nhượng mua bán căn hộ là 5.000.000.000 đồng, số tiền đặt cọc là 2.000.000.000 đồng, thời hạn đặt cọc là 02 năm kể từ ngày ký hợp đồng.

Xét, việc thỏa thuận đặt cọc giữa ông Nguyễn Văn M và bà Huỳnh Mỹ L là hoàn toàn tự nguyện, không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái với đạo đức xã hội, mục đích của việc đặt cọc là để đảm bảo cho việc giao kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất. Do đó, giao dịch dân sự về đặt cọc mua bán nhà giữa ông Nguyễn Văn M và bà Huỳnh Mỹ L là phù hợp với quy định tại Điều 117, Điều 118, Điều 119, Điều 328 Bộ luật dân sự năm 2015 có hiệu lực thi hành ngày 01/01/2017. Đây được xác định là giao dịch dân sự hợp pháp nên đã làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của cả hai bên.

Xét, quá trình thực hiện hợp đồng đặt cọc, ông Nguyễn Văn M đã giao đủ số tiền đặt cọc là 2.000.000.000 đồng cho bà Huỳnh Mỹ L. Tuy nhiên, đã hết thời hạn 02 năm kể từ ngày nhận cọc là ngày 02/01/2020, bà Huỳnh Mỹ L vẫn không thực hiện việc chuyển nhượng căn hộ số A3.3315, Tầng C, Tòa nhà A3 thuộc dự án Cao ốc H, số C B, Phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh cho ông Nguyễn Văn M là vi phạm hợp đồng đã ký kết. Do đó, yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn M về việc đề nghị bà Huỳnh Mỹ L trả lại số tiền đã nhận cọc là 2.000.000.000 đồng là có cơ sở chấp nhận.

2.2. Xét yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn M về việc đề nghị bà Huỳnh Mỹ L bồi thường tiền do vi phạm hợp đồng đặt cọc là 2.000.000.000 đồng:

Tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn là ông Nguyễn Chí T trình bày: Khi thực hiện giao kết hợp đồng đặt cọc mua bán nhà, ông Nguyễn Văn M biết được thông tin là căn hộ số A3.3315, Tầng C, Tòa nhà A3 thuộc dự án Cao ốc H, số C B, Phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh đã được bà Huỳnh Mỹ L thế chấp tại Ngân hàng TMCP H. Đồng thời, bà Huỳnh Mỹ L cam kết bằng lời nói là sau khi nhận đủ tiền đặt cọc thì bà Huỳnh Mỹ L sẽ tiến hành giải chấp tại ngân hàng và thực hiện thủ tục chuyển nhượng căn hộ nêu trên cho ông Nguyễn Văn M. Do tin tưởng nên ông Nguyễn Văn M đồng ý và đã giao đủ số tiền đặt cọc là 2.000.000.000 đồng cho bà Huỳnh Mỹ L. Tuy nhiên, sau khi giải chấp tại ngân hàng, bà Huỳnh Mỹ L lại chuyển nhượng căn hộ số A3.3315, Tầng C, Tòa nhà A3 thuộc dự án Cao ốc H, số C B, Phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh cho người khác với giá cao hơn.

Căn cứ Công văn số 580/2024/CV-CHA ngày 11/09/2024 và các tài liệu chứng cứ do Ngân hàng TMCP H cung cấp thể hiện: “Ngày 28/11/2015, bà Huỳnh Mỹ L đã thế chấp căn hộ số A3.3315, Tầng C, Tòa nhà A3 thuộc dự án Cao ốc H, số C B, Phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh tại Ngân hàng TMCP H theo Hợp đồng thế chấp tài sản hình thành trong tương lai số A3.3315/2015/BĐ. Ngày 13/07/2020, bà Huỳnh Mỹ L đã giải chấp căn hộ trên và Ngân hàng TMCP H đã bàn giao toàn bộ hồ sơ giấy tờ liên quan đến căn hộ thế chấp cho bà Huỳnh Mỹ L”.

Như vậy, có cơ sở khẳng định lời trình bày của nguyên đơn về việc thế chấp và giải chấp căn hộ số A3.3315, Tầng C, Tòa nhà A3 thuộc dự án Cao ốc H, số C B, Phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh là hoàn toàn phù hợp với sự xác nhận của Ngân hàng TMCP H tại Công văn số 580/2024/CV-CHA ngày 11/09/2024 cũng như các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Trường hợp này cần xác định hợp đồng đặt cọc là hợp đồng độc lập, có hiệu lực nhằm đảm bảo giao kết hợp đồng chuyển nhượng căn hộ số A3.3315, Tầng C, Tòa nhà A3 thuộc dự án Cao ốc H, số C B, Phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh giữa các bên. Việc bà Huỳnh Mỹ L đã giải chấp tại ngân hàng và không thực hiện chuyển nhượng căn hộ số A3.3315, Tầng C, Tòa nhà A3 thuộc dự án Cao ốc H, số C B, Phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh cho ông Nguyễn Văn M như đã thỏa thuận là vi phạm thỏa thuận của hợp đồng đặt cọc. Do đó, bà Huỳnh Mỹ L được xác định là người có lỗi trong việc làm cho hợp đồng không thể thực hiện.

Tại Điều 4 của Hợp đồng đặt cọc được ký kết giữa ông Nguyễn Văn M và bà Huỳnh Mỹ L có nội dung như sau: “Nếu bên A (bà Huỳnh Mỹ L) không tiến hành thủ tục chuyển nhượng/mua bán theo như thỏa thuận thì sẽ trả lại số tiền đặt cọc cho bên B (ông Nguyễn Văn M), đồng thời bồi thường số tiền bằng tiền đã đặt cọc”.

Do đó, yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn M đề nghị bà Huỳnh Mỹ L thanh toán số tiền 2.000.000.000 đồng là số tiền bồi thường do vi phạm hợp đồng đặt cọc là phù hợp với sự thỏa thuận giữa hai bên và Điều 328 Bộ luật dân sự năm 2015 có hiệu lực thi hành ngày 01/01/2017.

2.3. Về thời hạn thanh toán:

Tại Điều 280 Bộ luật dân sự năm 2015, có hiệu lực thi hành ngày 01/01/2017 quy định về thực hiện nghĩa vụ trả tiền như sau: “Nghĩa vụ trả tiền phải được thực hiện đầy đủ, đúng thời hạn, đúng địa điểm và phương thức đã thỏa thuận”. Xét thấy, giao dịch dân sự được xác lập và thực hiện vào ngày 02/01/2020 nhưng đến nay vẫn không thực hiện được. Do đó, nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải thanh toán số tiền nhận cọc và bồi thường do vi phạm hợp đồng ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3]. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 112.000.000 đồng.

Ông Nguyễn Văn M là người cao tuổi theo quy định tại Điều 2 Luật người cao tuổi. Theo quy định tại điểm đ Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Do đó, ông Nguyễn Văn M thuộc trường hợp được miễn nộp tiền án phí.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 2 Điều 21, khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39, khoản 2, khoản 3 Điều 92, Điều 147, Điều 203, Điều 220, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 244, Điều 266, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự có hiệu lực thi hành ngày 01/07/2016.

Căn cứ Điều 117, Điều 118, Điều 119, Điều 280, Điều 328, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 có hiệu lực thi hành ngày 01/01/2017.

Căn cứ vào Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015.

Căn cứ vào Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014 có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2015.

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Buộc bà Huỳnh Mỹ L có trách nhiệm trả cho ông Nguyễn Văn M số tiền đã nhận cọc là 2.000.000.000 đồng và tiền bồi thường do vi phạm hợp đồng đặt cọc là 2.000.000.000 đồng. Tổng cộng là 4.000.000.000 đồng (bốn tỷ đồng).

Thanh toán ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong các khoản tiền, hàng tháng bên thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

  • Bà Huỳnh Mỹ L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 112.000.000 đồng (một trăm mười hai triệu đồng).
  • Ông Nguyễn Văn M không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo của các đương sự:

Các đương sự có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự không có mặt tại phiên tòa thì được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật

Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

Các đương sự;

- TAND TP. HCM;

- VKSND Quận 4;

- Chi cục THADS Quận 4;

- Lưu: Vp, hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đỗ Đoàn Thanh Trúc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 275/2024/DS-ST ngày 20/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng đặt cọc mua bán nhà

  • Số bản án: 275/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng đặt cọc mua bán nhà
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/11/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc mua bán nhà giữa Nguyên đơn Nguyễn Văn M và Bị đơn Huỳnh M L
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger