TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN TỈNH BÌNH DƯƠNG Bản án số: 275/2024/HS-ST Ngày: 26 – 9 – 2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH
DƯƠNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Ngô Quang Ngọc Nhân.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Bà Lê Thị Nguyệt;
- Ông Đoàn Anh Minh.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nghĩa, Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thiện Tâm - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 23 và 26 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 226/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 309a/2024/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:
Phạm Văn K, sinh năm 1997 tại tỉnh Bình Dương; nơi thường trú: 8 khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn Q và bà Phan Thị N; bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/7/2023 đến nay, có mặt.
Người làm chứng: Vương Quốc Gia B, Hồ Văn N1, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày 24/7/2023, Công an phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương tiến hành kiểm tra hành chính căn chòi tạm tại khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương thì phát hiện bị cáo Phạm Văn K đang ở trong chòi cùng với tang vật gồm:
- + 01 túi nylon miệng kéo dính bên trong chứa tinh thể màu trắng cất giấu trong 01 hộp giấy màu nâu đỏ (ký hiệu M1);
- + 01 túi nylon miệng kéo dính bên trong chứa tinh thể màu trắng cất giấu trong 01 hộp giấy màu đen xám (ký hiệu M2);
- + 01 hộp giấy màu nâu đỏ kích thước 10,5x8x3 cm bên trong chứa nhiều túi nylon nhỏ chưa sử dụng;
- + 01 hộp giấy màu đen xám kích thước 10,5x7x3 cm bên trong chứa nhiều túi nylon nhỏ chưa sử dụng;
- + 02 cân tiểu ly điện tử;
- + 01 bình gas màu đen;
- + 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy;
- + 01 điện thoại di động hiệu Samsung Note 9.
Kết quả kiểm tra tại Trung tâm Y tế thành phố T xác định Phạm Văn K dương tính với ma túy loại Methamphetamine.
Quá trình điều tra xác định bị cáo Phạm Văn K là đối tượng không nghề nghiệp ổn định, được một đối tượng cho một túi nylon miệng kéo dính chứa tinh thể màu trắng (nghi ma túy đá) để sử dụng. Khoảng 08 giờ ngày 24/7/2023, K đã lấy một ít ma túy trong túi nylon trên sử dụng, số ma túy còn lại K cất giấu vào trong 01 hộp giấy màu nâu đỏ tại căn chòi tạm để bán cho các đối tượng có nhu cầu. Ngày 17/7/2023 và 21/7/2023, tại khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương, bị cáo K đã bán ma túy cho Hồ Văn N1, mỗi lần 01 gói với giá 200.000 đồng. Ngày 24/7/2023 tại khu vực gần ngã tư đường M - T với đường D, bị cáo K bán ma túy cho đối tượng tên C với giá 500.000 đồng.
Ngoài ra, Phạm Văn K khai nhận phụ giúp Vương Quốc Gia B bán ma túy, khi có người mua ma túy thì K giao ma túy cho người mua và lấy tiền giúp B và K được B cho ma túy sử dụng. Tuy nhiên, Vương Quốc Gia B không thừa nhận hành vi của mình như lời khai của B.
Kết luận giám định số 456/KL-KTHS(MT) ngày 31/7/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh B kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng, gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng/trọng lượng: 0,1826 gam (M1) và 1,5272 gam (M2).
Cáo trạng số: 205/CT-VKS-TA ngày 23/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương đã truy tố bị cáo Phạm Văn K về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 và tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương, trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Văn K từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và 09
(chín) đến 10 (mười) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy, tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai tội từ 10 (mười) năm 06 (sáu) tháng đến 12 (mười hai) năm tù.
Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:
- + Tịch thu tiêu huỷ số ma túy còn lại sau giám định chứa trong một bì thư đã niêm phong của Phòng K1 Công an tỉnh B ký hiệu số 456M1/PC09, 456M2/PC09.
- + Tịch thu tiêu hủy 01 hộp giấy màu nâu đỏ; 01 hộp giấy màu đen xám; 02 cân tiểu ly điện tử; 01 bình gas màu đen; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy; 02 ống thủy tinh uống cong.
- + Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước đối với số tiền 450.000 đồng bị can Phạm Văn K bán trái phép chất ma túy có được.
- + Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Samsung Note 9 của bị cáo K.
Bị cáo Phạm Văn K khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung của Bản kết luận điều tra và Cáo trạng, thống nhất với lời luận tội của Kiểm sát viên. Lời nói sau cùng bị cáo thể hiện thái độ ăn năn, hối cải và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Trong các giai đoạn tố tụng từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc việc truy tố, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, cán bộ điều tra, Kiểm sát viên đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra truy tố, bị cáo không khiếu nại, tố cáo về các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng là hợp pháp.
[2] Bị cáo Phạm Văn K khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng và các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, do đó Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
[2.1] Ngày 17/7/2023, ngày 21/7/2023 và ngày 24/7/2023 tại địa bàn khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương, Phạm Văn K đã có hành vi bán trái phép chất ma túy cho Hồ Văn N1 và đối tượng tên C. Ngoài ra, Phạm Văn K còn có hành vi tàng trữ 0,1826 gam (M1) ma túy loại Methamphetamine để sử dụng và 1,5272 gam (M2) ma túy loại Methamphetamine để sử dụng và bán lại cho người khác. Hành vi của Phạm Văn K đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ Luật Hình sự và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
[2.3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma tuý, gây mất trật tự, trị an tại địa phương và thể hiện ý thức xem thường pháp luật. Ma túy là loại chất gây nghiện nguy hiểm, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe, tính mạng của con người đồng thời là nguyên nhân phát sinh những tội phạm khác, tạo gánh nặng cho xã hội. Vật chứng thu giữ của bị cáo gồm cân tiểu ly tự chế, túi nylon dùng để chia nhỏ ma túy, bán cho người khác cho thấy bị cáo phạm tội có chuẩn bị, tính toán kỹ lưỡng, mang tính nguy hiểm cho xã hội cao. Do vậy, cần xử phạt bị cáo mức án tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm đảm bảo tính giáo dục riêng cho bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải, đây là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[5] Mức hình phạt theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là phù hợp, đối với mức hình phạt về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, Hội đồng xét xử sẽ điều chỉnh cho phù hợp với tính chất, mức độ hành vi bị cáo đã thực hiện.
[6] Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:
- - Đối với bì thư đã niêm phong của Phòng K1 Công an tỉnh B ký hiệu số 456M1/PC09, 456M2/PC09 chứa số lượng ma túy còn lại sau giám định nên tịch thu tiêu huỷ.
- - Đối với 01 hộp giấy màu nâu đỏ KT 10,5x8x3 cm bên trong chứa nhiều túi nylon nhỏ chưa sử dụng; 01 hộp giấy màu đen xám KT 10,5x7x3 cm bên trong chứa nhiều túi nylon nhỏ chưa sử dụng; 02 cân tiểu ly điện tử (tự chế); 01 bình gas màu đen, bán kính 5 cm, cao 20 cm; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy; 02 ống thủy tinh uống cong không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
- - Đối với số tiền 450.000 đồng bị cáo K bán trái phép chất ma túy có được nên cần buộc bị cáo nộp lại để sung vào ngân sách Nhà nước.
- - Đối với 01 điện thoại di động hiệu Samsung Note 9 của bị cáo K sử dụng vào việc phạm tội nên tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
[7] Đối với hành vi tàng trữ 01 bộ dụng cụ sử dụng trái phép chất ma túy của bị cáo K đã bị xử phạt hành chính theo Quyết định số: 123/QĐ-XPHC ngày 10/6/2024.
[8] Quá trình làm việc tại Cơ quan điều tra, bị cáo K khai nhận về việc bán ma túy giúp Vương Quốc Gia B, tuy nhiên B không thừa nhận. Bên cạnh đó theo Kết luận giám định số 5487/KL-KTHS ngày 21/9/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh B v/v phân tích và lưu mẫu gen từ dấu vết trên hai mẫu vật niêm phong 456-M1 và 456-M2 kết luận: “Phân tích được kiểu gen không đủ điều kiện truy nguyên từ dấu vết trên các mẫu gửi giám định”; và theo Kết luận giám định số 652/KL-KTHS (KTS) v/v phục hồi, trích xuất nội dung tin nhắn giữa số điện thoại của B và K, tin nhắn ứng dụng messenger kết luận: “Không tìm thấy
nội dung tin nhắn giữa số điện thoại 0944.113.xxx với số điện thoại 0349.540.xxx và 0346.261.382; Không tìm thấy nội dung tin nhắn trên ứng dụng messenger giữa tài khoản tên Vương Quốc Gia B và tài khoản tên “Khánh Phạm”. Do đó, Cơ quan điều tra chưa có cơ sở xử lý đối với hành vi của B.
[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 47, 48; Điều 55 của Bộ luật Hình sự;
- - Điều 106, Điều 136, điểm c khoản 2 Điều 290 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
- - Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về trách nhiệm hình sự:
Tuyên bố bị cáo Phạm Văn K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Phạm Văn K 02 (hai) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và 08 (tám) năm 09 (chín) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai tội là 10 (mười) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 24/7/2023.
2. Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:
- - Tịch thu tiêu huỷ số ma túy còn lại sau giám định chứa trong một bì thư đã niêm phong của Phòng K1 Công an tỉnh B ký hiệu số 456M1/PC09 và 456M2/PC09.
- - Tịch thu tiêu hủy: 01 hộp giấy màu nâu đỏ; 01 hộp giấy màu đen xám; 02 cân tiểu ly điện tử; 01 bình gas màu đen; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy; 02 ống thủy tinh uống cong.
- - Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung Note 9, số IMEI 357451090843487 của bị cáo Phạm Văn K.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 25/7/2024).
- Buộc bị cáo Phạm Văn K nộp lại số tiền 450.000 đồng để tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
3. Về án phí:
Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo:
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai./.
Nơi nhận:
| TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Quang Ngọc Nhân |
Bản án số 275/2024/HS-ST ngày 26/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về hình sự (tàng trữ và mua bán trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 275/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ và Mua bán trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ma túy
