|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG Bản án số:273/2023/HNGĐ-ST Ngày 27-11-2023 V/v tranh chấp xác định con cho cha mẹ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Dương
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Vũ Thị Minh Nguyệt;
Ông Đỗ Xuân Quyết.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lương Khánh Sơn - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Hải – Kiểm sát viên
Ngày 27 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 243/2023/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 8 năm 2023 về việc “Xác định con cho cha mẹ” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 259/2023/QĐXX-ST ngày 14 tháng 11 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Lê Y, sinh năm 1976; địa chỉ: Số 6 đường NT, phường MT quận NQ, thành phố Hải Phòng
- Bị đơn: Anh Nguyễn M, sinh năm 1964; địa chỉ: Số 6C62 phường TV, quận HB, thành phố Hải Phòng;
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Trần S, sinh năm 1976; hiện cư trú: Littoistentie 205, 21500 Kaarina, Suomi, Finland (Phần Lan)
Chị Yến, anh Minh, anh Sự vắng mặt và đều có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 02 tháng 8 năm 2023 và bản tự khai nguyên đơn là chị Lê Y trình bày:
Chị và anh Trần S kết hôn trên cơ sở tự nguyện có giấy đăng ký kết hôn do xa cách địa lý dẫn đến vợ chồng mâu thuẫn trầm trọng, ngày 25 tháng 01 năm 2019 Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng đã quyết định cho chị Lê Y và anh Trần S được ly hôn
+ Về con chung, tài sản chung: Vợ chồng chị Lê Y và Trần S không có con chung, không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết (Bản án đã có hiệu lực pháp luật)
Do xa cách địa lý trong thời gian anh Trần S đang sinh sống làm việc ở nước ngoài, chị có quen biết, nảy sinh tình cảm với anh Nguyễn M dẫn đến mang thai và sinh cháu dự kiến tên là Nguyễn N vào ngày 10/2/2017 tại Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Hải Phòng (Theo giấy chứng sinh số 0001063). Nay để đảm bảo quyền lợi cho cháu, chị đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xác định anh Nguyễn M là cha đẻ của cháu dự kiến tên là Nguyễn N, sinh ngày 10/02/2017 do chị sinh ra.
Bị đơn anh Nguyễn M thống nhất với đơn khởi kiện và các lời trình bày của chị Lê Y về quá trình quen biết và sinh cháu Nguyễn N, sinh ngày 10/02/2017. Nay anh đề nghị Tòa án xác định anh là cha đẻ của cháu dự kiến tên là Nguyễn N, sinh ngày 10/02/2017 do chị Lê Y sinh ra.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án anh Trần S: Anh thống nhất với chị Lê Y về thời gian kết hôn ly dị do xin ly hôn và xác định giữa anh và chị Lê Y không có con chung; đối với đơn yêu cầu xác định cha mẹ cho con của chị Lê Y và anh Nguyễn M với cháu Nguyễn N, sinh ngày 10/02/2017. Anh đề nghị Tòa án xác định anh Nguyễn M là cha đẻ của cháu dự kiến tên là Nguyễn N, sinh ngày 10/02/2017 do chị Lê Y sinh ra và anh ủy quyền cho chị Lê Y nhận các văn bản tố tụng tại Tòa án. Do điều kiện anh đang sinh sống làm việc tại nước ngoài do đó anh đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt anh, mọi phần quyết của Tòa án anh đều không kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:
- Về thủ tục tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa các đương sự vắng mặt vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt các đương sự.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Y, xử:
- Về quan hệ pháp luật: Công nhận anh Nguyễn M, sinh ngày 31 tháng 3 năm 1964 là cha đẻ của cháu dự kiến tên khai sinh là Nguyễn N, sinh ngày 10 tháng 02 năm 2017 do chị Lê Y sinh ra.
- Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lê Y được chấp nhận nên bị đơn anh Nguyễn M phải chịu án phí sơ thẩm nhưng do chị Lê Y tự nguyện nộp thay.
3. Về quyền kháng cáo của các đương sự:
Chị Lê Y và anh Nguyễn M được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
Anh Trần S được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
2
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về tố tụng:
[1] Về thẩm quyền giải quyết: Chị Lê Y có đơn đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng giải quyết việc xác định con cho cha, mẹ giữa cháu dự kiến tên khai sinh là Nguyễn N, sinh ngày 10 tháng 02 năm 2017 là con đẻ của anh Nguyễn M do chị Lê Y sinh ra. Vì người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án anh Trần S hiện đang cư trú tại Phần Lan. Theo quy định tại khoản 4 Điều 28; khoản 3 Điều 35, khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm d khoản 1 Điều 469 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.
[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa nguyên đơn chị Lê Y và anh Nguyễn M và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Trần S đều vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
- Về nội dung:
[3] Về quan hệ pháp luật: Chị Lê Y và anh Trần S kết hôn trên cơ sở tự nguyện có giấy đăng ký kết hôn nhưng do xa cách địa lý dẫn đến vợ chồng mâu thuẫn trầm trọng đến ngày 25 tháng 01 năm 2019 Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử và quyết định cho chị Lê Y và anh Trần S được ly hôn
[4] Về con chung, tài sản chung: Vợ chồng chị Lê Y và Trần S không có con chung, không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết (Bản án đã có hiệu lực pháp luật)
[5] Do xa cách địa lý, trong thời gian anh Trần S đang sinh sống làm việc ở nước ngoài, chị Lê Y có quen biết, nảy sinh tình cảm với anh Nguyễn M dẫn đến mang thai và sinh cháu dự kiến tên là Nguyễn N vào ngày 10/02/2017 tại Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Hải Phòng (Theo giấy chứng sinh số 0001063). Nay để đảm bảo quyền lợi cho cháu, chị Lê Y đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xác định anh Nguyễn M là cha đẻ của cháu dự kiến tên là Nguyễn N, sinh ngày 10/02/2017 do chị sinh ra
[6] Tại Kết quả xét nghiệm ADN số 230288GL/ADN ngày 16/02/2023 của Viện Công nghệ ADN và phân tích di truyền – GENLAB kết luận: Anh Nguyễn M có quan hệ huyết thống với bố - con với cháu tên dự kiến là Nguyễn N, sinh ngày 10/02/2017 với độ tin cậy > 99,9999%. Ngoài ra trong đơn đề nghị của anh Trần S cũng xác nhận chị Lê Y sinh cháu tên dự kiến là Nguyễn N, sinh ngày 10/02/2017 không phải con giữa anh và chị Lê Y và đề nghị Tòa án xác định anh Nguyễn M là cha đẻ của cháu Nguyễn N do chị Yến sinh ra.
[7] Từ phân tích nêu trên, căn cứ vào Điều 89, Điều 90, Điều 91, khoản 2 Điều 102 của Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Y xác định anh Nguyễn M là cha đẻ của cháu có tên dự kiến là Nguyễn N, sinh ngày 10/02/2017 do chị Lê Y sinh ra.
[8] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lê Y được chấp nhận nên bị đơn anh Nguyễn M phải chịu án phí sơ thẩm nhưng do chị Lê Y tự nguyện nộp thay. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận buộc chị Lê Y phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm.
[9] Về quyền kháng cáo của các đương sự: Chị Lê Y và anh Nguyễn M, anh Trần S được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 4 Điều 28; khoản 3 Điều 35, khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 266, Điều 273, điểm d khoản 1 Điều 469, khoản 2 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 89, Điều 90, Điều 91 và khoản 2 Điều 102 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Xử:
- Về quan hệ pháp luật: Công nhận anh Nguyễn M, sinh ngày 31 tháng 3 năm 1964 là cha đẻ của cháu dự kiến tên khai sinh là Nguyễn Ngọc Kim Ngân, sinh ngày 10 tháng 02 năm 2017 do chị Lê Y sinh ra (Theo giấy chứng sinh số 0001063 cấp lại ngày 12/5/2019 tại Bệnh viện đa khoa quốc tế Hải Phòng)
- Về án phí: Chị Lê Y phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo của các đương sự:
- Chị Lê Y và anh Nguyễn M được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
- Anh Trần S được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ./.
4
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Dương |
5
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ |
||
|
Nguyễn Văn Dương |
6
Bản án số 273/2023/HNGĐ-ST ngày 27/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về tranh chấp xác định con cho cha mẹ
- Số bản án: 273/2023/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp xác định con cho cha mẹ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/11/2023
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu khởi kiện
