Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 275/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 20-6-2024

Về việc: “Tranh chấp ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thanh Nhàn.

Các Hội thẩm nhân dân :

  1. Ông Phạm Minh Tuấn;
  2. Bà Nguyễn Thị Kim Hồng.

Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Ngọc Phương – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Lê Ngọc Thanh Trúc – Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 6 năm 2024, tại Trụ sở Toà án nhân dân Quận 10, số B đường T, Phường A, Quận A, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 541/2023/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 11 năm 2023, về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 83/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 85/2024/QÐST-HNGĐ ngày 21 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm: 1971 (có đơn xin vắng mặt)

Địa chỉ: 377/59 Cách mạng tháng 8, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh

- Bị đơn: Ông Nguyễn Bá L, sinh năm: 1976 (vắng mặt)

Địa chỉ: 377/59 Cách mạng tháng 8, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh

NỘI DUNG VỤ ÁN :

Theo đơn khởi kiện ngày 10/10/2023, trong quá trình tố tụng và tại bản tự khai nguyên đơn bà Nguyễn Thị H trình bày:

Bà Nguyễn Thị Hông Nguyễn Bá L chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Nai theo giấy chứng nhận kết hôn số 58/99, quyển số 01, cấp ngày 21 tháng 6 năm 1999.

Cuộc sống vợ chồng trong thời gian chung sống thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, bất đồng do vợ chồng không hợp nhau về cách sống và quan điểm sống, hai bên không thể hòa giải để đoàn tụ được với nhau. Vợ chồng đã ly thân 2 năm, không còn sống chung với nhau.

Về con chung: Có 02 con chung tên là Nguyễn Hoài L1, sinh ngày 28/9/1999 (đã thành niên) và Nguyễn Ngọc Yến N, sinh ngày 16/6/2007. Bà H có nguyện vọng nuôi trẻ Nguyễn Ngọc Yến N để tiện việc học hành cho trẻ. Bà H không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thị H khai không có tài sản chung.

Về nợ chung: Bà Nguyễn Thị H khai không có nợ chung.

Bị đơn ông Nguyễn Bá L vắng mặt trong suốt quá trình tòa thụ lý và giải quyết vụ án nên không có lời khai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 phát biểu ý kiến:

Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến thời điểm xét xử, thấy rằng Tòa án thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền. Tòa án đã tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng cho các đương sự.

Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm.

Trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn đã chấp hành theo đúng quy định của pháp luật, có nộp bản tự khai, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng bị đơn vắng mặt nên không có ý kiến trong vụ án. Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn có đơn xin vắng mặt và bị đơn không đến tòa tham gia xét xử nên Hội đồng xét xử căn cứ vào quy định pháp luật tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

Về nội dung vụ án: Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án có cơ sở chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào lời khai của đương sự, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp: Căn cứ vào giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số số 58/99, quyển số 01, cấp ngày 21 tháng 6 năm 1999 của Ủy ban nhân dân thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Nai, có cơ sở xác định quan hệ hôn nhân giữa ông Nguyễn Bá L và bà Nguyễn Thị H là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ, nay bà H yêu cầu ly hôn là tranh chấp “Ly hôn” thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án.

[2] Về thẩm quyền: Bị đơn ông Nguyễn Bá L hiện đang cư trú tại địa chỉ 377/59 Cách mạng tháng 8, Phường A, Quận A, Tp . nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3] Về tư cách tham gia tố tụng: Xét bị đơn ông Nguyễn Bá L đã được Tòa án tống đạt Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và triệu tập tham gia xét xử hợp lệ đến lần thứ hai nhưng bị đơn vẫn vắng mặt. Xét đơn xin xét xử vắng mặt của nguyên đơn bà Nguyễn Thị H là hợp lệ nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.

[4] Xét các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[4.1] Về quan hệ hôn nhân: Tại bản tự khai và biên bản không tiến hành hòa giải được, bà H trình bày vợ chồng chung sống thường xuyên phát sinh mâu thuẫn không thể hàn gắn được. Ông L vẫn không thay đổi mà đời sống chung ngày càng trầm trọng nên bà H vẫn giữ nguyên mong muốn được ly hôn. Quá trình giải quyết vụ án ông L không tham gia hòa giải cho thấy bản thân ông L cũng không thiết tha đến việc hàn gắn tình cảm vợ chồng. Xét mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, không có khả năng hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà H xin ly hôn ông L là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4.2] Về con chung: Xét trẻ Nguyễn Ngọc Yến N, sinh ngày 16/6/2007 có đơn trình bày nguyện vọng mong muốn được ở với mẹ cũng như hiện tại trẻ đang được bà H chăm sóc, giáo dục. Do đó, việc giao trẻ Nguyễn Ngọc Yến N cho bà H tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp quyền lợi và nguyện vọng của trẻ nên được chấp nhận. Về cấp dưỡng nuôi con, bà H không yêu cầu cấp dưỡng nên Tòa không xem xét giải quyết.

[4.3] Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thị H khai không có tài sản chung nên không yêu cầu toà án giải quyết.

[5] Về án phí: Bà Nguyễn Thị H phải chịu án phí hôn nhân gia đình theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ vào các Điều 81, 82, 83, 84, 107, 116 và Điều 117 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
  • - Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 266, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • - Căn cứ Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 24 và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Xử: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn :

[1] Về quan hệ vợ chồng: Bà Nguyễn Thị H được ly hôn ông Nguyễn Bá L.

[2] Về con chung: Giao trẻ Nguyễn Ngọc Yến N, sinh ngày 16/6/2007 cho bà Nguyễn Thị H trực tiếp nuôi dưỡng. Bà H không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nên Tòa không xem xét giải quyết.

Ông Nguyễn Bá L có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con mà không ai có quyền cản trở, nhưng không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con của người đang trực tiếp nuôi con.

Vì quyền lợi về mọi mặt của con, khi có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con hoặc hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên.

[3] Về tài sản chung và nợ chung: Bà Nguyễn Thị H khai không có tài sản chung và nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[4] Án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân gia đình: Bà Nguyễn Thị H chịu 300.000 (ba trăm ngàn) đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai số 0035488 ngày 19/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Nguyễn Thị H đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự

Các đương sự có thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ./.

Nơi nhận:

  • - TAND TP.HCM;
  • - VKSND Q.10;
  • - Chi cục THADS Q.10;
  • - UBND thị trấn Trảng Bom
  • (để ghi vào sổ hộ tịch);
  • - Đương sự;
  • - Lưu VP, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thanh Nhàn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 275/2024/HNGĐ-ST ngày 20/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 275/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger