|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HOÀI NHƠN TỈNH BÌNH ĐỊNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 275/2024/HNGĐ-ST Ngày 11 - 7 - 2024 V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HOÀI NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Vinh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Á và ông Nguyễn Hữu Tố.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Ba - Thư ký Toà án nhân dân thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Ông Trương Văn Đình - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 7 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 129/2024/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 4 năm 2024 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 180/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 727/2024/QĐST-HNGĐ ngày 20 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Trương Thị Mỹ H, sinh năm 1978; địa chỉ: Khu phố V, phường H, thị xã H, tỉnh Bình Định.
- Bị đơn: Ông Lê Minh K, sinh năm 1974; địa chỉ: Khu phố V, phường H, thị xã H, tỉnh Bình Định.
(Bà H có mặt, ông K vắng mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình tố tụng cũng như tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn bà Trương Thị Mỹ H trình bày:
Bà và ông K tự nguyện kết hôn có đăng ký tại Uỷ ban nhân dân xã (nay là phường) Hoài Đức ngày 02/11/1998. Trong quá trình chung sống mâu thuẫn vợ chồng xảy ra nguyên nhân là do tính tình không hợp, sống không tôn trọng lẫn nhau, ông K mỗi lần uống rượu về thường hay kiếm chuyện ghen tuông, chửi bới, đánh đập vợ con, bà đã nhiều lần khuyên can nhưng ông K vẫn tính nào tật nấy không thay đổi. Vì không chịu đựng được nên bà phải bỏ ra đi sống riêng từ tháng 01/2024 cho đến nay và kể từ đó vợ chồng sống xa cách nhau, không ai quan tâm gì đến ai. Nay bà thấy vợ chồng sống không hạnh phúc, tình cảm vợ chồng cũng không còn, bà yêu cầu được ly hôn. Bà và ông K có 03 người con chung là anh Lê Thanh L, sinh năm 1999; chị Lê Triệu Duệ T, sinh năm 2005 đều đã thành niên bà không yêu cầu giải quyết; riêng cháu Lê Triệu T1, sinh ngày 24/10/2006 sau ly hôn bà yêu cầu được trực tiếp nuôi cháu T1 như từ bấy lâu nay và không yêu cầu ông K phải cấp dưỡng nuôi con. Tài sản chung không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Bị đơn: Ông Lê Minh K vắng mặt tại phiên tòa. Trong quá trình giải quyết vụ án ông K đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt nên không có lời khai.
- Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng theo quy định của pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu của bà H được ly hôn ông K. Về con chung anh Lê Thanh L, sinh năm 1999 và chị Lê Triệu Duệ T, sinh năm 2005 đều đã thành niên, giao cháu Lê Triệu T1, sinh ngày 24/10/2006 cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng và ghi nhận sự tự nguyện của bà H không yêu cầu ông K phải cấp dưỡng nuôi con. Tài sản chung không yêu cầu Toà án giải quyết. Về án phí sơ thẩm hôn nhân và gia đình bà H phải chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
[1] Đây là vụ án “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn ông K có địa chỉ tại khu phố V, phường H, thị xã H, tỉnh Bình Định. Do đó Tòa án nhân dân thị xã Hoài Nhơn thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Bị đơn ông K đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt tại phiên tòa. Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt.
Về nội dung:
[1] Bà H và ông K tự nguyện kết hôn có đăng ký tại Uỷ ban nhân dân xã (nay là phường) Hoài Đức ngày 02/11/1998 là hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình chung sống mâu thuẫn vợ chồng xảy ra nguyên nhân là do tính tình không hợp, sống không tôn trọng với nhau nên thường hay chửi bới, đánh đập. Rồi bà H tự bỏ ra đi sống riêng từ tháng 01/2024 cho đến nay và kể từ đó vợ chồng sống xa cách nhau, không ai quan tâm gì đến ai, làm cho mâu thuẫn vợ chồng ngày càng gay gắt, tình trạng hôn nhân lâm vào trầm trọng, đời sống chung không còn, mục đích của hôn nhân không đạt được.
Từ những tình tiết và chứng cứ nêu trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà H được ly hôn ông K là có căn cứ và đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
[2] Bà H và ông K có 03 người con chung là anh Lê Thanh L, sinh năm 1999; chị Lê Triệu Duệ T, sinh năm 2005 đều đã thành niên nên không yêu cầu giải quyết; riêng cháu Lê Triệu T1, sinh ngày 24/10/2006 sau ly hôn bà H yêu cầu được trực tiếp nuôi cháu T1 như từ bấy lâu nay và không yêu cầu ông K phải cấp dưỡng nuôi con. Cháu T1 có nguyện vọng, mong muốn được ở với bà H để được nuôi dưỡng và học hành tốt hơn. Còn ông K thì trong quá trình giải quyết vụ án không có văn bản nào ghi ý kiến của mình cung cấp cho Tòa án đối với yêu cầu về nuôi con chung. Do đó Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà H, giải quyết giao cháu Lê Triệu T1, sinh ngày 24/10/2006 cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng và ghi nhận sự tự nguyện nuôi con của bà H không yêu cầu ông K phải cấp dưỡng nuôi con là có căn cứ và đúng với quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình.
[3] Tài sản chung không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[4] Về án phí sơ thẩm hôn nhân và gia đình: Bà H phải chịu 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng) sung vào công quỹ Nhà nước là đúng theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
[5] Phát biểu ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hoài Nhơn tham gia phiên tòa về việc giải quyết vụ án là phù hợp với nhận định trên của Hội đồng xét xử.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 56, khoản 2 Điều 81, Điều 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Bà Trương Thị Mỹ H được ly hôn ông Lê Minh K.
- Về con chung: Anh Lê Thanh L, sinh năm 1999 và chị Lê Triệu Duệ T, sinh năm 2005 đã thành niên. Giao cháu Lê Triệu T1, sinh ngày 24/10/2006 cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện nuôi con của bà H không yêu cầu ông K phải cấp dưỡng nuôi con.
Ông K có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở. Vì lợi ích của con các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
- Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí sơ thẩm hôn nhân và gia đình: Bà Trương Thị Mỹ H phải chịu 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng) sung vào ngân sách Nhà nước. Bà Trương Thị Mỹ H đã nộp tạm ứng đủ theo Biên lai thu tạm ứng án phí số: 0006342 ngày 02/4/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Hoài Nhơn, được tính trừ.
- Về kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật, để Toà án nhân dân tỉnh Bình Định xét xử theo trình tự phúc thẩm.
“Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (đã ký) Nguyễn Văn Vinh |
Bản án số 275/2024/HNGĐ-ST ngày 11/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HOÀI NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 275/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HOÀI NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà Trương Thị Mỹ H ly hôn, tranh chấp về nuôi con với ông Lê Minh K
