|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HOÁ TỈNH THANH HÓA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 275/2024/HS-ST
Ngày: 05-8-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HOÁ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Liên
-
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Lê Văn Tám
- Ông Trịnh Xuân Tính
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mơ - Thư ký TAND thành phố Thanh Hóa
- Đại diên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Cao Kỳ - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 296/2024/HS-ST ngày 04 tháng 7 năm 2024. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 299/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:
1. Trần Thị Ngọc L - Sinh năm 1990; Nơi cư trú: Khu T, phường T, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 4/12; Giới tính: Nữ; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Trần Quốc H (đã chết) và bà Nguyễn Thị L1, sinh năm 1967; có chồng: Bùi Văn T và 02 con, lớn sinh năm 2008, nhỏ sinh năm 2018; Tiền án, tiền sự: Chưa; Nhân thân: Ngày 21/7/2010 bị Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm, Thành phố Hà Nội tuyên phạt 07 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản” đã chấp hành xong hình phạt và án phí HSST; Ngày 29/6/2017 bị Công an thành phố N, tỉnh Nam Định xử phạt vi phạm hành chính 500.000 đồng về hành vi “Đánh nhau”, ngày 03/7/2017 L đã nộp tiền phạt. Tạm giữ: 21/4/2024; tạm giam: 24/4/2024, tại Nhà tạm giữ Công an thành phố T. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
2. Trần Mạnh D - Sinh năm 1988; Nơi cư trú: SN Y đường G, phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 8/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Trần Xuân T1, sinh năm 1960 và bà Trần Thị H1, sinh năm 1963; có vợ: Trần Thị Thùy T2 (đã ly hôn) và 02 con, lớn sinh năm 2009, nhỏ sinh năm 2016; Tiền án, tiền sự: Chưa; Nhân thân: Ngày 13/7/2010, bị Tòa án nhân dân thành phố Nam Định xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, ngày 31/01/2011 chấp hành xong hình phạt tù và án phí HSST; Ngày 26/8/2014, bị Tòa án nhân dân thành phố Nam Định xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, ngày 28/01/2015 chấp hành xong hình phạt tù và án phí HSST; Tạm giữ: 21/4/2024; Tạm giam: 24/4/2024, tại Nhà tạm giữ Công an thành phố T. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Chị Lương Thị L2, sinh năm: 1994; địa chỉ: Thôn X, xã H, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. (vắng mặt)
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Việt H2, sinh năm: 1985; địa chỉ: Tổ G, phường Y, quận H, TP .. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 14 giờ ngày 15/01/2024, Trần Mạnh D điều khiển xe mô tô nhãn hiệu HONDA LEAD màu đỏ, biển kiểm soát 2956-635.23 chở Trần Thị Ngọc L đi từ thành phố N, tỉnh Nam Định đến thành phố T, tỉnh Thanh Hóa với mục đích tìm chỗ sơ hở để trộm cắp tài sản. Khoảng 18 giờ cùng ngày, cả hai đi đến cửa hàng bán quần áo Miss Studio địa chỉ I L, phường L, thành phố T phát hiện thấy chị Lương Thị L2 để chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda SH Mode, màu trắng, BKS 36AX-001-71 trên vỉa hè đi vào trong cửa hàng. L đi theo vào cửa hàng G mua quần áo, còn D ngồi trên xe mô tô đứng ngoài đường chờ. L thấy chị L2 để chiếc áo khoác trên ghế sô pha (gần quầy thu ngân) rồi đi vào phòng thử đồ quần áo, Lộc móc trong túi áo khoác của chị L2 lấy chiếc chìa khóa xe đi ra ngoài mở khóa trộm cắp chiếc xe của chị L2. Sau đó, L điều khiển xe mô tô trộm cắp được của chị L2 chạy trước, D điều khiển xe mô tô của mình theo sau, cả hai đi theo đường Q hướng ra Thành phố Hà Nội. Khi đi hết địa phận tỉnh Thanh Hóa đến đoạn đường vắng (các bị cáo không nhớ cụ thể đoạn đường), L dừng xe kiểm tra tài sản bên trong cốp xe, thấy có 01 chiếc ví màu đen không có nhãn hiệu, không có quai đeo, hình chữ nhật, kích thước khoảng (10x25)cm, gồm hai ngăn có khóa kéo bên trong có số tiền 10.000.000đ (mười triệu đồng) và các giấy tờ cá nhân gồm: Giấy đăng ký xe; Căn cước công dân; Giấy phép lái xe, Giấy thông báo về quyền riêng tư, đều mang tên chị Lương Thị L2. L lấy số tiền 10.000.000 đồng và Giấy đăng ký xe; Căn cước công dân; Giấy thông báo về quyền riêng tư cất vào trong người rồi vứt ví cùng các loại giấy tờ còn lại ven đường tiếp tục cùng D điều khiển xe đi thẳng đến Thành phố Hà Nội.
Khoảng 22 giờ cùng ngày, L và D đi đến cửa hàng cầm đồ tại số H T, phường G, quận H, Thành phố Hà Nội. D ngồi trên xe máy đứng đợi bên ngoài, còn L mang chiếc xe máy trên vào trong cửa hàng cầm cố xe cùng giấy tờ cho anh Nguyễn Việt H2 (là chủ cửa hàng) được số tiền 40.000.000đ (bốn mươi triệu đồng). Sau đó, D chở L ra bến xe để L đón xe về thành phố N, trên đường đi L nói với D cầm cố chiếc xe máy trên được 22.000.000₫ và kiểm tra trong cốp xe có số tiền 1.800.000đ, L đưa cho D số tiền 11.900.000đ. Toàn bộ số tiền chiếm đoạt được, cả hai sử dụng chi tiêu cá nhân.
Ngày 02/02/2024, Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong Tố tụng hình sự thành phố T có Kết luận định giá tài sản số 13/KL-HĐĐGTS, kết luận về giá của tài sản: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda SH MODE, màu trắng, BKS 36AX-001-71, SM: JK01E0595278; SK: RLHJK0102PZ217892, xe mua tháng 11 năm 2023, đã qua sử dụng. Giá trị tài sản 60.000.000 đồng.
Ngày 21 tháng 04 năm 2024, Trần Thị Ngọc L và Trần Mạnh D đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với các tài liệu chứng cứ do Cơ quan điều tra thu thập được. Quá trình điều tra, gia đình các bị cáo đã bồi thường cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Việc thu giữ tài liệu, đồ vật, xử lý vật chứng: Ngày 13/03/2024, anh Nguyễn Việt H2 đã tự nguyện giao nộp vật chứng của vụ án gồm:
- - 01 chiếc xe nhãn hiệu Honda SH mode, màu trắng, biển kiểm soát 36AX-001.71; số khung: RLHJK0102PZ217892; số máy: JK01E0595278.
- - 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số 36000204 mang tên Lương Thị L2.
- - 01 căn cước công dân số [...] mang tên Lương Thị L2.
- - 01 giấy thông báo về quyền riêng tư mang tên Lương Thị L2.
Toàn bộ tài sản, tài liệu trên, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho chủ sở hữu chị Lương Thị L2.
Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu nhãn hiệu Honda Lead, màu đỏ, biển kiểm soát 2956-635.23 mà D và L sử dụng làm phương tiện đi trộm cắp tài sản, D khai nhận mua qua mạng xã hội và sau đó đã bán cho một người không quen biết. Cơ quan điều tra đã thông báo truy tìm nhưng không thu giữ được.
Đối với biển kiểm soát 2956-635.23 gắn trên chiếc xe mô tô mà các bị cáo sử dụng làm phương tiện đi trộm cắp có thông tin người đăng ký là anh Khổng Văn H3, sinh năm 1994, trú tại thôn D, xã T, huyện S, Thành phố Hà Nội, anh H3 khai báo với Cơ quan điều tra là chủ sở hữu xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exerter (có biển kiểm soát trên), chiếc xe máy này anh H3 đã bán từ lâu nên không nhớ tên tuổi địa chỉ người mua, không có việc bị mất hay thất lạc biển kiểm soát xe máy. Cơ quan điều tra đã tra cứu nhưng không phải xe vật chứng.
Về phần dân sự: Người bị hại chị Lương Thị L2 yêu cầu các bị cáo phải bồi thường cho chị số tiền 10.000.000đ. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Việt H2 đã nhận lại từ gia đình Trần Thị Ngọc L số tiền 10.000.000 đồng; nhận từ gia đình Trần Mạnh D số tiền 12.000.000 đồng, anh H2 không yêu cầu các bị can phải bồi thường thêm.
Tại phiên toà, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung của bản cáo trạng và kết luận của Cơ quan CSĐT Công an thành phố T. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt vắng mặt nhưng đã có đầy đủ lời khai.
Cáo trạng số 227/CT-VKSTP ngày 04/7/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa truy tố bị cáo Trần Thị Ngọc L và Trần Mạnh D về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đã làm rõ các căn cứ phạm tội, trách nhiệm hình sự (TNHS) của các bị cáo, trong phần luận tội vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo như nội dung của bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 của BLHS đề nghị xử phạt Trần Thị Ngọc L từ 30 đến 36 tháng tù; xử phạt bị cáo Trần Mạnh D từ 27 đến 30 tháng tù. Về phần dân sự: Áp dụng Điều 585; 587; 589 BLDS, buộc các bị cáo phải bồi thường cho bị hại số tiền 10.000.000đ, chia theo phần mỗi bị cáo phải bồi thường số tiền 5.000.000đ. Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho các bị cáo. Về án phí: các bị cáo phải chịu án phí HSST và án phí DSST theo quy định của pháp luật.
Các bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, lời nói sau cùng xin xem xét giảm nhẹ TNHS.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, tại phiên tòa những người tham gia tố tụng không có khiếu nại gì, Hội đồng xét xử tiến hành theo thủ tục chung.
[2]. Các căn cứ định tội đối với bị cáo: Trên cơ sở lời khai của bị cáo tại phiên tòa và lời khai trước đây bị cáo đã khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, căn cứ vào kết quả tranh tụng HĐXX nhận thấy:
Vào khoảng 18 giờ ngày 15 tháng 01 năm 2024, tại cửa hàng B địa chỉ I L, phường L, thành phô T, lợi dụng sự sơ hở của chị Lương Thị L2. Được sự giúp sức từ Trần Mạnh Duy, Trần Thị Ngọc L lén lút chiếm đoạt của chị Lương Thị L2 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda SH MODE, màu trắng, BKS 36AX-001-71, SM: JK01E0595278; SK: RLHJK0102PZ217892, giá trị tài sản là 60.000.000 đồng và 10.000.000 đồng chị L2 để trong cốp xe. Tổng giá trị tài sản là 70.000.000đ.
Như vậy, hành vi của của các bị cáo Trần Thị Ngọc L, Trần Mạnh D đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 của BLHS, như cáo trạng và quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở, đúng pháp luật.
[3] Tính chất vụ án: Đây là vụ án có tính chất, mức độ thuộc tội phạm nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây ảnh hưởng xấu về an ninh, trật tự, an toàn xã hội; trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác. Động cơ, mục đích phạm tội của bị cáo vì vụ lợi cá nhân dẫn đến thực hiện hành vi lén lút, bí mật chiếm đoạt tài sản của người bị hại gây thiệt hại với tổng giá trị tài sản là 70.000.000đ. Vì vậy, cần phải được xử lý nghiêm minh để giáo dục các bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
[4] Xét vai trò của các bị cáo: Do có mục đích từ trước nên các bị cáo đã có sự bàn bạc thống nhất đi từ Nam Định vào thành phố T để trộm cắp tài sản. Bị cáo L trực tiếp tiếp cận bị hại và trực tiếp điều khiển xe trộm cắp mang đi cầm cố, bị cáo D đứng bên ngoài chờ L thực hiện hành vi. Các bị cáo phạm tội mang tính đồng phạm giản đơn, không có sự câu kết, phân công nhiệm vụ. Bị cáo L giữ vai trò chính nên phải chịu hình phạt cao hơn bị cáo D là phù hợp.
[5]. Về trách nhiệm hình sự (TNHS) của từng bị cáo:
Tình tiết giảm nhẹ: Sau khi phạm tội, các bị cáo đã đến cơ quan điều tra đầu thú, bị hại đã nhận lại tài sản, các bị cáo đã động viên gia đình bồi thường cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Quá trình điều tra và tại phiên toà hôm nay các bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội nên được áp dụng chung tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Tuy nhiên các bị cáo có nhân thân xấu, đã bị xét xử, xử phạt hành chính về các hành vi khác nhau.
Căn cứ vào nhân thân, tính chất mức độ, hành vi phạm tội của các bị cáo cần áp dụng Điều 38 của BLHS để cách ly khỏi xã hội một thời gian đối với các bị cáo để có điều kiện cải tạo sớm trở thành người lương thiện.
[6] Hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có việc làm, thu nhập và đang bị tạm giam nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
[7] Về phần dân sự:
Bị hại chị Lương Thị L2 yêu cầu các bị cáo phải bồi thường số tiền là 10.000.000 đồng. Do đó các bị cáo phải bồi thường số tiền trên.
Anh Nguyễn Việt H2 đã nhận đầy đủ tiền bồi thường nên HĐXX không xem xét.
[8] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm đối với số tiền phải bồi thường theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Điểm c khoản 2 Điều 173; Điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 BLHS; Điều 585; 587; 589 BLDS; Điều 136 của BLTTHS; điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên bố: Các bị cáo Trần Thị Ngọc L và Trần Mạnh D phạm tội “Trộm cắp tài sản".
Xử phạt:
- Bị cáo Trần Thị Ngọc L 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 21/4/2024.
- Bị cáo Trần Mạnh D 27 (Hai mươi bảy) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 21/4/2024.
Về dân sự: Buộc bị cáo Trần Thị Ngọc L và bị cáo Trần Mạnh D phải bồi thường cho chị Lương Thị L2 số tiền 10.000.000đ, chia theo phần mỗi bị cáo phải bồi thường số tiền 5.000.000đ (Năm triệu đồng).
Công nhận người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã nhận đủ tài sản và không có yêu cầu gì.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo Trần Thị Ngọc L và Trần Mạnh D mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí HSST và 300.000đ án phí DSST.
Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc ngày niêm yết bản án.
Khi bản án có hiệu lực pháp luật, bên được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành, nếu bên phải thi hành án không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ thì hàng tháng phải chịu thêm khoản tiền lãi tương ứng đối với số tiền chậm trả tại thời điểm thanh toán, theo quy định tại Khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự
Quyết định bản án được thi hành theo Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (Đã ký) Trần Thị Liên |
Bản án số 275/2024/HS-ST ngày 05/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HOÁ, TỈNH THANH HOÁ về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 275/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HOÁ, TỈNH THANH HOÁ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
