Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THUẬN AN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 275/2025/LĐ-ST

Ngày: 11 - 6 - 2025

V/v: “Tranh chấp về bảo hiểm xã hội”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Nhâm

Các Hội thẩm nhân dân.

Bà Nguyễn Thị Hồng Xuân - Phó chủ tịch Hội phụ nữ thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương;

Ông Nguyễn Lê Vân - Phó chủ tịch Liên đoàn lao động thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tố Uyên - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà: Bà Bùi Thanh Thuỷ - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 6 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án lao động thụ lý số 161/2025/TLST-LĐ ngày 19 tháng 3 năm 2025 về việc: “Tranh chấp về bảo hiểm xã hội”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 211/2025/QĐXXST-LĐ ngày 08 tháng 5 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 98/2025/QĐST-LĐ ngày 26 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn V, sinh năm 1968; thường trú: 3/1 khu phố E, thị trấn N, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh; địa chỉ liên lạc: 1 khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương, có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

- Bị đơn: Công ty TNHH A; trụ sở: 3/279 khu phố H, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương.

Người đại diện hợp pháp: Bà Nguyễn Thị Kim T, chức vụ: Giám đốc, vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bảo hiểm xã hội thành phố T, địa chỉ: Đường N, khu phố B, phường L, thành phố T, tỉnh Bình Dương, có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình tố tụng nguyên đơn ông Nguyễn Văn V trình bày:

Nguyên trước đây ông V làm việc cho Công ty TNHH A từ tháng 8 năm 2017 đến tháng 1/2024. Quá trình làm việc ông luôn chấp hành kỷ luật nội quy công ty, công ty có tham gia bảo hiểm xã hội cho ông. Vào tháng 9 năm 2023 ông tra thông tin quá trình đóng bảo hiểm xã hội trên phần mềm VSSID và phát hiện Công ty không tham gia bảo hiểm xã hội cho ông mặc dù hàng tháng công ty vẫn trừ tiền tham gia bảo hiểm xã hội của ông, ông có báo nhân sự công ty thì bên nhân sự trả lời hiện công ty chưa có tiền nên hứa sẽ cố gắng đóng bảo hiểm xã hội cho người lao động theo quy định. Sau đó ông tiếp tục làm đến tháng 1 năm 2014 thì xin nghỉ việc theo quy định. Nay ông yêu cầu Công ty TNHH A phải đóng và chốt sổ bảo hiểm xã hội cho ông từ tháng 4 năm 2023 đến tháng 07 năm 2024 và từ tháng 12 năm 2021 đến tháng 01 năm 2024; đóng bảo hiểm thất nghiệp cho ông tháng 4 năm 2023 đến đến tháng 01 năm 2024 theo quy định của pháp luật.

- Người đại diện hợp pháp của bị đơn Công ty TNHH A không có văn bản trình bày ý kiến và không tham gia tố tụng.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Bảo hiểm xã hội thành phố T trình bày: Trong quá trình tố tụng đã có công văn phúc đáp cho Tòa án về quá trình đóng bảo hiểm của ông V, đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật, do bận công việc nên đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Chủ tọa phiên tòa và Hội đồng xét xử trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục được pháp luật quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã chấp hành đúng pháp luật tố tụng, bị đơn chưa chấp hành pháp luật tố tụng.

Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ vào hồ sơ vụ án, các tài liệu, chứng cứ đã được Hội đồng xét xử xem xét và kết quả tranh luận tại phiên tòa, nhận thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp: Ông Nguyễn Văn V khởi kiện Công ty TNHH A yêu cầu truy đóng tiền bảo hiểm xã hội. Xét, đây là vụ án “Tranh chấp về bảo hiểm xã hội” được quy định tại điểm d khoản 1 Điều 32 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

[2] Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn Công ty TNHH A có địa chỉ trụ sở C tổ F khu phố H, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thuận An.

[3] Về việc xét xử vắng mặt đương sự: Nguyên đơn ông V và Bảo hiểm thành phố T có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Bị đơn Công ty TNHH A đã được triệu tập hợp lệ để tham gia tố tụng và tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt, không có văn bản trình bày ý kiến coi như tự từ bỏ quyền và nghĩa vụ của mình. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định tại Khoản 2 Điều 227; Khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[4] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Ông V vào làm việc tại Công ty TNHH A từ tháng 8 năm 2017, Công ty TNHH A có đăng ký tham gia bảo hiểm xã hội cho ông V từ tháng 11/2017 theo quy định tại khoản 1 Điều 19 và khoản 2 Điều 21 Luật Bảo hiểm xã hội.

Căn cứ Công văn số 410/CV-BHXH ngày 31/3/2025 của Bảo hiểm T xác định: Ông Nguyễn Văn V, sinh ngày 21/10/1968, mã số Bảo hiểm xã hội 7410072106 có quá trình tham gia bảo hiểm xã hội tại Công ty TNHH A, Công ty TNHH A đang nợ tiền thanh toán bảo hiểm xã hội cho ông V từ tháng 4 năm 2021 đến nay; nợ tiền bảo hiểm thất nghiệp từ tháng 4 năm 2023 đến nay; từ tháng 8 năm 2021 đến tháng 11 năm 2021 ông V không tham gia bảo hiểm xã hội.

Ông V nghỉ việc từ tháng 02/2024 nên thời gian phải đóng bảo hiểm xã hội cho ông V phải tính đến hết tháng 01/2024. Như vậy việc Công ty TNHH A trừ lương của ông V hàng tháng nhưng không trích nộp tiền bảo hiểm xã hội cho ông V và không xác nhận thời gian đóng bảo hiểm xã hội cho ông V là vi phạm pháp luật, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông V theo quy định tại khoản 5 Điều 21 Luật bảo hiểm xã hội, khoản 3 Điều 48 của Bộ luật Lao động nên yêu cầu khởi kiện của ông V là có căn cứ.

Từ những phân tích nêu trên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông V. Buộc Công ty TNHH A phải đóng tiền bảo hiểm xã hội cho ông V từ tháng 4 năm 2023 đến tháng 01 năm 2024; đóng bảo hiểm thất nghiệp cho ông V tháng 4 năm 2023 đến tháng 01 năm 2024 tại Bảo hiểm xã hội thành phố T. Mức đóng và số tiền phải đóng được thực hiện theo quy định pháp luật về Bảo hiểm xã hội và buộc Công ty TNHH A thực hiện thời gian đóng bảo hiểm xã hội cho ông V theo quy định pháp luật.

[5] Quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[6] Về án phí: Yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn Công ty TNHH A phải chịu án phí lao động sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Điểm d khoản 1 Điều 32; điểm c khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 235; Điều 238; Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • - Điều 48 Bộ luật Lao động;
  • - Các Điều 17, 18, 19, 21, 85, 86, khoản 2 Điều 89 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014;
  • - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn V đối với bị đơn Công ty TNHH A về việc “Tranh chấp bảo hiểm xã hội”.
  2. Buộc Công ty TNHH A phải nộp các khoản bảo hiểm xã hội còn nợ từ tháng 4 năm 2023 đến tháng 01 năm 2024; đóng bảo hiểm thất nghiệp cho ông V tháng 4 năm 2023 đến tháng 01 năm 2024 cho ông Nguyễn Văn V, sinh ngày 21/10/11968, số căn cước công dân [...] mã số bảo hiểm xã hội: 7410072106 tại Bảo hiểm xã hội thành phố T. Các khoản phải nộp được thực hiện theo quy định của pháp luật về Bảo hiểm xã hội.

    Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền và nghĩa vụ thực hiện các thủ tục để chốt sổ bảo hiểm xã hội cho ông V theo quy định của pháp luật.

  3. Về án phí: Công ty TNHH A phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí lao động sơ thẩm.

Trường hợp được thi hành theo quy định tại Điều 2, Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND tp. Thuận An;
  • - CCTHADS tp. Thuận An;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

 

Vũ Thị Nhâm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 275/2025/LĐ-ST ngày 11/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp về bảo hiểm xã hội

  • Số bản án: 275/2025/LĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về bảo hiểm xã hội
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/06/2025
  • Loại vụ/việc: Lao động
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: NVV - CTY AW
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger