|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 275/2024/DS-ST
Ngày 30-8-2024
V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHÓ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Hoa
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Tô Văn Nhung;
- Bà Trần Thị Ngọc.
- Thư ký phiên tòa: Bà Chu Tường Vy – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Vương - Kiểm sát viên
Ngày 30 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 484/2024/TLST- DS ngày 26 tháng 6 năm 2024 về tranh chấp hợp đồng vay tài sản theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 362/2024/QĐXXST-DS ngày 26 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 325/2024/QÐST-DS ngày 14 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Đoàn Văn Đ, sinh năm 1959; địa chỉ liên hệ: Số A, Đường Đ, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Bị đơn: Ông Lê Ngọc H, sinh năm 1984; địa chỉ: Số B Tổ C, khu phố B, phường B, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Tại đơn khởi kiện ngày 17 tháng 6 năm 2024, bản tự khai ngày 02/7/2024 và quá trình tham gia tố tụng nguyên đơn ông Đoàn Văn Đ trình bày:
Vào ngày 15/2/2024, ông Lê Ngọc H vay của ông số tiền 400.000.000 đồng (Bốn trăm triệu đồng). Lãi suất vay 20%/ năm. Thời hạn vay từ ngày 15/02/2024 đến 15/02/2025. Theo thỏa thuận, nếu quá 01 (một) tháng mà bên vay không trả lãi thì thời hạn nêu trên không còn giá trị nữa và bên vay phải hoàn trả ngay vốn đã nhận của bên cho vay. Nếu tháng thứ 02 (hai) trở đi mà bên vay vẫn không trả nợ thì bên vay phải trả lãi quá hạn theo quy định tại Bộ luật Dân sự năm 2015. Việc vay tiền có lập thành Hợp đồng vay tiền (kiêm giấy biên nhận tiền vay). Tuy nhiên, từ ngày vay tiền đến nay ông Lê Ngọc H không trả khoản vốn và lãi nào cho ông. Ông đã nhiều lần yêu cầu ông H trả tiền nhưng không thành.
Vì vậy, ông khởi kiện yêu cầu tòa án giải quyết như sau:
Buộc ông Lê Ngọc H trả cho ông số tiền nợ gốc là 400.000.000 đồng (bốn trăm triệu đồng) và số tiền lãi tính theo quy định pháp luật từ ngày 15/02/2024 đến ngày Tòa án xét xử sơ thẩm vụ án (ngày 30/8/2024), cụ thể:
- Lãi trong hạn từ ngày 15/02/2024 đến ngày 14/3/2024 là 01 tháng x 20%/ năm x 400 triệu đồng = 6.600.000 đồng.
- Lãi quá hạn từ ngày 15/3/2024 đến ngày 30/8/2024 là 05 tháng 15 ngày x 20%/ năm x 400 triệu đồng x 150% = 54.950.000 đồng.
Tổng cộng là 461.550.000 đồng (Bốn trăm sáu mươi mốt triệu năm trăm năm mươi nghìn đồng).
- Bị đơn ông Lê Ngọc H: ông H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa vào các ngày 14 và ngày 30/8/2024 nhưng ông H vắng mặt không có lý do nên không có ý kiến đối với yêu cầu của nguyên đơn, không cung cấp tài liệu chứng cứ gì.
- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát:
Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định tại Điều 203 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án.
Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng Dân sự xét xử vắng mặt các đương sự.
Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án nhận thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét quyết định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Nguyên đơn ông Đoàn Văn Đ có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, bị đơn ông Lê Ngọc H đã được tòa án triệu tập tham gia phiên tòa vào các ngày 18 và 30/8/2024 nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 227 và 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, Tòa án xét xử vắng mặt các đương sự.
[2] Ngày 15/02/2024, ông Lê Ngọc H có ký Hợp đồng vay tiền (kiêm giấy biên nhận tiền vay) với ông Đoàn Văn Đ để vay ông Đ số tiền 400.000.000 đồng (bốn trăm triệu đồng), hai bên thỏa thuận lãi suất vay 20%/ năm; thời hạn vay từ ngày 15/02/2024 đến 15/02/2025. Ngoài ra các bên còn thỏa thuận về việc vi phạm hợp đồng, cụ thể: nếu quá một tháng mà bên vay không trả lãi thì thời hạn nêu trên không còn giá trị nữa và bên vay phải hoàn trả ngay vốn đã nhận của bên cho vay, nếu tháng thứ hai trở đi mà bên vay vẫn không trả nợ thì phải trả lãi quá hạn theo quy định tại Bộ luật Dân sự năm 2015. Xét, Hợp đồng được ký giữa hai bên thể hiện ý chí tự nguyện của các đương sự trong giao kết hợp đồng. Quá trình thực hiện hợp đồng nguyên đơn đã giao đủ tiền vay 400.000.000đ cho bị đơn, nhưng từ khi nhận tiền đến nay bị đơn chưa thanh toán tiền lãi và tiền gốc cho nguyên đơn mặc dù nguyên đơn đã nhiều lần nhắc nhở bị đơn nhưng bị đơn vẫn không thực hiện. Như vậy, ông H đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán đã được thỏa thuận trong hợp đồng nên yêu cầu khởi kiện của ông Đ là có cơ sở chấp nhận theo quy định tại Khoản 1 Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015 về nghĩa vụ trả nợ của bên cho vay “1. Bên vay tài sản là tiền thì phải trả tiền khi đến hạn”.
[3] Về tiền lãi: Trong hợp đồng vay tiền giữa nguyên đơn và bị đơn có thỏa thuận thời hạn vay là 01 (một) năm với mức lãi suất 20%/ năm, vì vậy, đây là hợp đồng vay có kỳ hạn và có lãi. Ngoài ra các bên cũng thỏa thuận lãi suất 20%/năm áp dụng cho trường hợp bị đơn thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thanh toán cho nguyên đơn, trường hợp bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán của bất kỳ tháng nào thì từ tháng thứ 2 trở đi tiền lãi sẽ được tính thành lãi quá hạn theo quy định pháp luật (lãi quá hạn bằng 150% lãi trong hạn). Quá trình tố tụng nguyên đơn xác định bị đơn chưa thanh toán cho nguyên đơn bất kỳ khoản tiền vốn và lãi nào, bị đơn cũng không tham gia phiên tòa, không cung cấp bất kỳ tài liệu chứng cứ nào thể hiện đã thanh toán tiền gốc hoặc tiền lãi cho nguyên đơn. Do đó, nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả tiền lãi trong hạn từ ngày 15/02/2024 đến ngày 15/3/2024 với mức lãi suất 20%/năm và tiền lãi quá hạn tính từ ngày 16/3/2024 đến ngày 30/8/2024 với mức lãi suất 150% lãi suất trong hạn là phù hợp với quy định tại khoản 5 Điều 466 và khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự. Như vậy, nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả số tiền lãi trong hạn là 6.600.000₫ (01 tháng x 20%/ năm x 400.000.000đồng) và tiền lãi quá hạn là 54.950.000đồng (05 tháng 15 ngày x 20%/ năm x 400.000.000đồng x 150%), là có căn cứ chấp nhận.
Do Hợp đồng vay tiền giữa ông Đ với ông H là hợp đồng vay có lãi nên tiền lãi được tiếp tục tính theo quy định tại Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao về Hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.
[4] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử và phù hợp với quy định pháp luật nên chấp nhận.
[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên ông Lê Ngọc H phải chịu theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 144, 147, 271, 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; các Điều 357, Điều 466 và Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015; Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về việc hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm; căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
- Buộc ông Lê Ngọc H thanh toán cho ông Đoàn Văn Đ số tiền 461.550.000 đồng (Bốn trăm sáu mươi mốt triệu năm trăm năm mươi nghìn đồng), trong đó tiền nợ gốc 400.000.000đồng (bốn trăm triệu đồng) và tiền lãi là 61.550.000đồng (sáu mươi mốt triệu năm trăm năm mươi nghìn đồng).
Tiền lãi đối với Hợp đồng vay tài sản ký giữa ông Đoàn Văn Đ với ông Lê Ngọc H được tiếp tục tính kể từ ngày 31/8/2024 cho đến khi ông Lê Ngọc H trả xong các khoản nợ theo mức lãi suất 30%/năm (tương đương 2.5%/tháng).
- Án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Lê Ngọc H phải chịu số tiền 22.462.000đồng (hai mươi hai triệu bốn trăm sáu mươi hai nghìn đồng).
Trường hợp bản án được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Kim Hoa |
Bản án số 275/2024/DS-ST ngày 30/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 275/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ông Đoàn Văn Đ tranh chấp hợp đồng vay tài sản với ông Lê Ngọc H
