Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ DĨ AN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 274/2024/DS-ST

Ngày 30/8/2024

V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Hoàng.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Văn Hoàn.
  2. Bà Nguyễn Thị Thu Vân.

Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Anh Ly, là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hạnh - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 250/2024/TLST-DS ngày 26 tháng 4 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 301/2024/QĐXXST-DS ngày 02 tháng 7 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 291/2024/QÐST-DS, ngày 24 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 321/2024/QÐST-DS, ngày 12 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần S, địa chỉ trụ sở: Số B đường N, Phường H, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
  • Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D, chức vụ: Tổng Giám đốc.
  • Người đại diện hợp pháp: Ông Lê Văn Anh M, sinh năm 1984, chức vụ: Trưởng phòng giao dịch L, là người đại diện theo ủy quyền (văn bản ủy quyền số 3525/2023/QĐ-PC ngày 25/12/2023).
  • Người đại diện hợp pháp: Ông Quách T, sinh năm 1979 địa chỉ: Số E chung cư M, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, là người đại diện theo ủy quyền (văn bản ủy quyền số 73/2023/GUQ-PGDLD ngày 25/3/2024), có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.
  • - Bị đơn: Ông Huỳnh Văn T1, sinh năm: 1966; địa chỉ: Số C khu phố Đ, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 25/3/2024 và lời khai trong quá trình tố tụng, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn, ông Quách T trình bày:

Ngày 05/10/2022, ông Huỳnh Văn T1 có ký với Ngân hàng thương mại cổ phần S (gọi tắt là Ngân hàng) hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng theo giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng (gọi chung là hợp đồng). Căn cứ thu nhập của ông T1, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là 100.000.000 đồng, với mục đích tiêu dùng cá nhân. Sau khi được cấp thẻ tín dụng, ông T1 đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 220.923.800 đồng. Trong quá trình sử dụng thẻ, tính đến ngày 15/07/2023 ông T1 đã thanh toán cho Ngân hàng tổng số tiền 151.349.000 đồng. Từ ngày 16/07/2023 đến nay mặc dù Ngân hàng đã nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng ông T1 không trả nợ cho Ngân hàng. Do ông T1 vi phạm trách nhiệm thanh toán của chủ thẻ (Điều 18 của bản điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của ngân hàng), ngày 15/11/2023 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn (Điều 24 của bản điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của ngân hàng). Tính đến hết ngày 30/8/2024, ông T1 còn nợ Ngân hàng tổng số tiền là 149.446.378 đồng trong đó nợ gốc là 103.598.058 đồng, nợ lãi tính từ ngày 16/11/2023 đến hết ngày 30/8/2024 là 45.848.320 đồng. Ngân hàng đề nghị Tòa án giải quyết buộc ông Huỳnh Văn T1 phải trả ngay cho Ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến ngày 149.446.378 đồng cụ thể như, nợ gốc là 103.598.058 đồng, nợ lãi tính từ ngày 16/11/2023 tới ngày 30/8/2024 là 45.848.320 đồng. Yêu cầu ông Huỳnh Văn T1 có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 31/8/2024 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại hợp đồng.

Đối với bị đơn ông Huỳnh Văn T1: Quá trình tố tụng ông T1 đã được Tòa án thông báo về việc thụ lý vụ án, tống đạt các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp, triệu tập hợp lệ để cung cấp tự khai trình bày ý kiến đối với yêu cầu của nguyên đơn, triệu tập tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải cũng như triệu tập ông T1 để tham gia các phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do. Bị đơn không có ý kiến gì và cũng không cung cấp tài liệu, chứng cứ. Việc giải quyết yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được xem xét trên cơ sở chứng cứ do nguyên đơn cung cấp và do Tòa án thu thập.

Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát tham gia phiên tòa:

Quá trình tố tụng, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, nguyên đơn đã chấp hành và tuân theo pháp luật đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn, có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt. Bị đơn đã được triệu tập tham gia phiên tòa vào các ngày 24/7/2024, ngày 12/8/2024 và ngày 30/8/2024 nhưng vắng mặt không có lý do, vì vậy Tòa án căn

cứ vào Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt tất cả các đương sự.

Về nội dung vụ án: căn cứ Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng, có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về sự vắng mặt của đương sự: Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn, có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt. Bị đơn ông Huỳnh Văn T1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa vào ngày 24/7/2024, ngày 12/8/2024 và ngày 30/8/2024 nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt tất cả các đương sự.

[2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

[2.1] Xét hợp đồng tín dụng giữa nguyên đơn và bị đơn, giao dịch tín dụng cho vay theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 05/10/2022 được giao kết giữa Ngân hàng thương mại cổ phần S và bị đơn ông Huỳnh Văn T1 do nguyên đơn cung cấp có chữ ký của các bên, thể hiện ý chí tự nguyện thỏa thuận, không trái quy định pháp luật, không vi phạm đạo đức xã hội nên có hiệu lực bắt buộc và các bên phải thực hiện.

[2.2] Đối với bị đơn, quá trình tố tụng giải quyết vụ án Tòa án đã triệu tập ông T1, để ông T1 có ý kiến về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tuy nhiên, ông T1 vắng mặt trong suốt thời gian tố tụng giải quyết vụ án. Căn cứ vào khoản 4 Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự quy định: “Đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì Tòa án giải quyết vụ việc dân sự theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ việc”. Bị đơn, ông T1 có quyền đưa ra các chứng cứ để chấp nhận hoặc bác bỏ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nhưng bị đơn, ông T1 không thực hiện xem như từ bỏ quyền chứng minh của mình.

Căn cứ giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 05/10/2022, được giao kết giữa Ngân hàng thương mại cổ phần S và bị đơn ông Huỳnh Văn T1, căn cứ bản tóm tắt sao kê tài khoản Huỳnh Văn T1 ngày 31/5/2024 và ngày 30/8/2024; Bảng tổng hợp tiền gốc, tiền lãi và phí sao kê do nguyên đơn cung cấp thể hiện ông T1 đã được cấp thẻ tín dụng số 526830-0522. Ông T1 đã thực hiện chi tiêu, rút tiền mặt nhiều lần từ ngày 15/10/2022 tới ngày 15/01/2023 thông qua thẻ tín dụng nói trên với tổng số tiền là 220.923.800 đồng, ông T1 đã thanh toán nợ gốc và lãi tính đến hết ngày 15/7/2023 là 151.349.000 đồng. Từ ngày 16/07/2023 đến nay ông T1 không thanh toán nợ gốc và không thanh toán tiền lãi theo đúng thỏa thuận cho Ngân hàng. Ngày 15/11/2023, Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ tín dụng của ông T1 và chuyển toàn bộ dư nợ 103.598.058 đồng qua nợ quá hạn. Như vậy, bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo thỏa thuận. Nguyên đơn Ngân hàng TMCP S yêu cầu buộc bị đơn thanh toán toàn bộ khoản nợ tính đến hết ngày 30/8/2024 là 149.446.378 đồng, cụ thể nợ gốc là 103.598.058 đồng, nợ lãi tính từ ngày 16/11/2023 tới ngày 30/8/2024 là 45.848.320 đồng là có căn cứ. Ông Huỳnh Văn T1 phải tiếp tục

chịu lãi, phí phát sinh từ ngày tiếp theo của ngày Tòa án xét xử cho đến khi thanh toán xong tất cả các khoản nợ theo thỏa thuận giữa hai bên.

[2.3] Hợp đồng tín dụng theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 05/10/2022, thể hiện thông tin cá nhân chủ thẻ chính “Họ và tên Huỳnh Văn T1” thông tin nghề nghiệp “Tên đơn vị công tác “công ty TNHH Đ”, chức danh “chủ doanh nghiệp”, thông tin người hôn phối “Huỳnh Thị Kim L”. Theo giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 05/10/2022 áp dụng cho chủ thẻ là khách hàng cá nhân, không thể hiện mục đích cho vay nhằm mục đích phục vụ, phát triển công ty hay phục vụ cho gia đình và nguyên đơn xác định mục đích vay là tiêu dùng cá nhân, nên công ty TNHH Đ và bà Huỳnh Thị Kim L không có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án này. Vì vậy Hội đồng xét xử không đưa công ty TNHH Đ, bà Huỳnh Thị Kim L tham gia với tư cách là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án này.

[3] Đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương là phù hợp.

[4] Từ những phân tích trên, có cơ sở chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn phải chịu theo quy định của Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, các Điều 92, 147, 238 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào các Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng; Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng;

Căn cứ Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP, ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;

Căn cứ vào khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần S đối với bị đơn ông Huỳnh Văn T1 về tranh chấp hợp đồng tín dụng.

1.1. Buộc ông Huỳnh Văn T1 thanh toán cho Ngân hàng thương mại cổ phần S số tiền nợ theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 05/10/2022 tính đến hết ngày 30/8/2024 là 149.446.378 đồng (một trăm bốn

mươi chín triệu bốn trăm bốn mươi sáu ngàn ba trăm bảy mươi tám đồng), trong đó nợ gốc là 103.598.058 đồng, nợ lãi tính từ ngày 16/11/2023 tới ngày 30/8/2024 là 45.848.320 đồng.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận tại giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 05/10/2022.

2. Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Huỳnh Văn T1 phải chịu 7.472.318 (bảy triệu bốn trăm bảy mươi hai ngàn ba trăm mười tám) đồng. Trả lại cho Ngân hàng thương mại cổ phần S 3.166.637 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0002802 ngày 15/4/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

3. Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND thành phố Dĩ An (1);
  • - Chi cục THADS thành phố Dĩ An (1);
  • - TAND tỉnh Bình Dương (1);
  • - Lưu: VT, HSVA (2).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Minh Hoàng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 274/2024/DS-ST ngày 30/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 274/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng-T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger