Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHỢ MỚI

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 274/2023/HNGĐ-ST

Ngày: 29/12/2023

V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Anh Thư.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Văn Hồng;
  2. Ông Trịnh Văn Bé.

- Thư ký phiên toà: Bà Võ Thị Thảo, Thư ký Toà án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Phước Lợi – Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 12 năm 2023 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Chợ Mới xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 599/2023/TLST-HNGĐ về việc tranh chấp “Ly hôn, nuôi con” theo Quyết định hoãn phiên tòa số 642/2023/QĐST-HNGĐ ngày 08 tháng 12 năm 2023, giữa các đương sự:

1. N đơn: Ông Võ Thanh S, sinh năm 1990; địa chỉ: 188 tổ 09 ấp M, xã N, huyện C, tỉnh An Giang (Có mặt);

2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Tr, sinh năm 1993; địa chỉ: 188 tổ 09 ấp M, xã N, huyện C, tỉnh An Giang (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, tờ tự khai N đơn ông Võ Thanh S trình bày: Ông và bà Nguyễn Thị Tr do mai mối, tìm hiểu và tiến tới hôn nhân năm 2014, có đăng ký kết hôn theo quy định tại Ủy ban nhân dân xã Nhơn Mỹ, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang. Vợ chồng sống hạnh phúc đến cuối năm 2022 thì mâu thuẫn do vợ làm nợ nên bỏ nhà đi, vợ chồng không còn sống chung từ thời điểm đó đến nay. Nay nhận thấy tình cảm không ông S nên yêu cầu được ly hôn với bà Nguyễn Thị Tr; Về quan hệ con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Võ Kh N, sinh ngày 05/01/2015; Võ Đăng Kh, sinh ngày 19/11/2020, hiện 02 chung đang chung sống với ông S, khi ly hôn ông S yêu cầu được tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng 02 con chung, không yêu cầu bà Tr cấp dưỡng nuôi con; Về quan hệ tài sản chung: Không có, không yêu cầu giải quyết; Về quan hệ nợ chung: Không có.

Tại phiên tòa, ông Võ Thanh S giữ N yêu cầu khởi kiện.

Bị đơn bà Nguyễn Thị Tr được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, nhưng bà Tr vẫn vắng mặt nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến và không hòa giải được.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng. Về ý kiến giải quyết: đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình:

- Chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông Võ Thanh S đối với bà Nguyễn Thị Tr.

- Ông Võ Thanh S được tiếp tục chăm sóc con chung 02 con chung tên Võ Kh N, sinh ngày 05/01/2015; Võ Đăng Kh, sinh ngày 19/11/2020, bà Nguyễn Thị Tr không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Ông Võ Thanh S yêu cầu ly hôn với bà Nguyễn Thị Tr, bà Tr có nơi cư trú M, xã N, huyện C, tỉnh An Giang nên Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại Điều 28, Điều 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Bị đơn bà Nguyễn Thị Tr được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 để tham gia phiên tòa, nhưng vẫn vắng mặt không lý do. Căn cứ vào Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà Tr là có căn cứ.

[3] Ông Võ Thanh S yêu cầu ly hôn với bà Nguyễn Thị Tr, ông S và bà Tr có đăng ký kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình nên quan hệ hôn nhân giữa hai người được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Theo ông S trình bày, vợ chồng sống hạnh phúc đến cuối năm 2022 thì mâu thuẫn do vợ làm nợ nên bỏ nhà đi, ông đã có liên hệ với bà Tr, nhưng bà Tr không đồng ý về sống chung. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tống đạt thông báo thụ lý vụ án về việc ông S yêu cầu ly hôn và triệu tập bà Tr tham gia các phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ, hòa giải và tham gia phiên tòa, nhưng bà Tr vẫn vắng mặt và không có ý kiến phản đối yêu cầu ly hôn của ông S. Hội đồng xét xử xét thấy, mâu thuẫn giữa ông S và bà Tr đã diễn ra trong thời gian dài, N nhân do bà Tr làm nợ nên bỏ nhà đi, dẫn đến tình cảm vợ chồng ngày mâu thuẫn nhiều hơn và không còn chung sống từ cuối năm 2022 đến nay. Trong thời gian này, hai bên cũng không tạo điều kiện cho nhau hàn gắn tình cảm vợ chồng, mục đích hôn nhân không đạt được, nếu chung sống với nhau cũng không hạnh phúc. Căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông S là phù hợp theo quy định pháp luật.

[4] Về quan hệ con chung: Trong thời gian chung sống, ông S xác định vợ chồng có 02 con chung tên Võ Kh N, sinh ngày 05/01/2015; Võ Đăng Kh, sinh ngày 19/11/2020, hiện 02 chung đang chung sống với ông S. Khi ly hôn ông S yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng 02 con chung. Tòa án ghi nhận nguyện vọng của cháu Kh N, cháu muốn sống với cha là ông S. Hội đồng xét xử xét thấy, từ khi vợ chồng không còn sống chung với nhau, các cháu Kh N, Đăng Kh do ông S trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng nên tâm tư tình cảm của cháu gắn liền với người nuôi dưỡng và trong quá trình giải quyết bà Tr cũng không có ý kiến phản đối yêu cầu này của ông S. Mặt khác, nguyện vọng của của cháu Kh N muốn sống chung với ông S. Do đó, để ông S được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng các cháu Kh N, Đăng Kh là phù hợp với pháp luật.

[5] Đối với cấp dưỡng nuôi con chung: Do ông S không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đề cập đến.

[6] Về quan hệ tài sản chung: Ông S trình bày không có, nên Hội đồng xét xử không đề cập đến.

[7] Về quan hệ nợ chung: Ông S trình bày không có, nên Hội đồng xét xử không đề cập đến.

[8] Án phí hôn nhân sơ thẩm: Đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ các Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 144, Điều 147, Điều 227 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

- Các Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình 2014;

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Võ Thanh S đối với bà Nguyễn Thị Tr.

- Về quan hệ hôn nhân: Ông Võ Thanh S được ly hôn với bà Nguyễn Thị Tr.

Giấy chứng nhận kết hôn số 139/KH, ngày 10 tháng 7 năm 2014 do Ủy ban nhân dân xã Nhơn Mỹ, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang cấp cho ông Võ Thanh S đối với bà Nguyễn Thị Tr không còn giá trị pháp lý.

- Về quan hệ con chung: Ông Võ Thanh S được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng 02 con chung tên Võ Kh N, sinh ngày 05/01/2015; Võ Đăng Kh, sinh ngày 19/11/2020. Bà Nguyễn Thị Tr không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Ông Võ Thanh S cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở bà Nguyễn Thị Tr trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

- Về quan hệ tài sản chung: Không có.

- Về quan hệ nợ chung: Không có. Ghi nhận việc ông Võ Thanh S xác định không có nợ chung trong thời kỳ hôn nhân, nhưng sau khi quyết định ly hôn có hiệu lực pháp luật, nếu có người khởi kiện xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, thì ông Võ Thanh S và bà Nguyễn Thị Tr phải liên đới chịu trách nhiệm với tư cách đồng bị đơn trong vụ án dân sự khác.

- Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, ông Võ Thanh S phải chịu, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, theo biên lai thu số 0014006 do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang cấp ngày 09/10/2023. ông Võ Thanh S đã nộp đủ án phí.

Đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày tuyên án. Riêng đương sự văng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND H. Chợ Mới;
  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - Chi cục THADS H. Chợ Mới;
  • - UBND nơi đăng ký kết hôn;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Anh Thư

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 274/2023/HNGĐ-ST ngày 29/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG về tranh chấp ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 274/2023/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ông S nên yêu cầu được ly hôn với bà Nguyễn Thị Tr; Về quan hệ con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Võ Kh N, sinh ngày 05/01/2015; Võ Đăng Kh, sinh ngày 19/11/2020, hiện 02 chung đang chung sống với ông S, khi ly hôn ông S yêu cầu được tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng 02 con chung, không yêu cầu bà Tr cấp dưỡng nuôi con; Về quan hệ tài sản chung: Không có, không yêu cầu giải quyết; Về quan hệ nợ chung: Không có.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger