TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN THÀNH PHÓ HỎ CHÍ MINH Bản án số: 274/2023/HS-ST Ngày: 28/11/2023 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Mỹ Linh.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Kim Liên
- Bà Nguyễn Thị Tịnh Tâm.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tố Nguyên - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Hải - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 11 năm 2023, Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 237/2023/TLST-HS ngày 03 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 308/2023/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 11 năm 2023, đối với bị cáo:
Họ và tên: Bùi Văn T, sinh năm: 1967 tại tỉnh Long An; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Không đăng ký thường trú; Nghề nghiệp: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Trình độ văn hóa: 0/12; Họ tên cha: Bùi Văn H1 (chết); Họ tên mẹ: Nguyễn Thị L (chết); Anh chị em: 02 người kể cả bị cáo; Vợ: Lương Kim X (chết) và 01 người con sinh năm 1996; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 18/6/1986 bị Công an quận B bắt về hành vi trộm cắp xe đạp, hồ sơ đã bị thất lạc, không rõ hình thức xử lý. Ngày 18/9/2014, bị Tòa án nhân dân huyện Đức Huệ, tỉnh Long An xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo bản án số 21/2014/HSST, chấp hành xong hình phạt tù ngày 03/7/2015. Ngày 15/02/2017 bị Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời hạn 21 tháng, chấp hành xong ngày 09/9/2018; Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ, tạm giam Công an huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh từ ngày 16/02/2023 cho đến nay; Bị cáo được trích xuất có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- - Anh Hồ Anh V, sinh năm 2002 (vắng mặt).
- Địa chỉ: 7 ấp F, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.
- - Anh Đào Minh H2, sinh năm 1992 (vắng mặt).
- Địa chỉ: 1.08 Block H, chung cư T, phường T, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bùi Văn T nghiện ma túy, do không có việc làm và cần tiền để mua ma túy để sử dụng nên T thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy, cụ thể như sau:
Khoảng 11 giờ ngày 16/02/2023, Bùi Văn T nhận điện thoại hỏi mua 500.000 đồng ma túy đá của Hồ Anh V. T đồng ý và hẹn giao dịch tại trước khách sạn T1, địa chỉ D ấp H, xã B, huyện H. T đến khu vực ngã tư A mua của H3 (chưa rõ lai lịch) 01 gói ma túy với giá 400.000 đồng rồi điều khiển xe máy biển số 50N2 – 30215 đến địa điểm đã hẹn với V để giao ma túy. Khi đến nơi, T gặp V nhưng chưa kịp giao ma túy và nhận tiền thì bị Đội CSĐTTP về Ma túy Công an huyện H bắt quả tang. Thu giữ trên tay phải của T 01 gói nylon chứa chất tinh thể không màu (ký hiệu m₁).
Khám xét nơi ở của T tại địa chỉ 2 ấp Đ, xã B, huyện H thu giữ 01 gói nylon bên trong có 06 gói nylon chứa tinh thể không màu (ký hiệu m₂), 01 hộp quẹt gas, 01 cân tiểu ly, 01 đoạn ống hút nhựa có một đầu cắt nhọn, 01 cây kéo kim loại, một số gói nylon bên trong không chứa gì.
Tại Cơ quan điều tra, T khai nhận bán ma túy cho V 03 lần, lần thứ nhất ngày 13/02/2023, lần 2 vào ngày 15/02/2023, lần 3 là ngày bị bắt quả tang. Lời khai của T phù hợp với lời khai của V. Số ma túy thu giữ tại nhà T cất giấu để bán cho người nghiện.
Tại Kết luận giám định số: 1571/KL-KTHS ngày 23/02/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hồ Chí Minh kết luận:
- - Gói 1: Tinh thể không màu được kí hiệu mẫu m₁ cần giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,4035g (không phẩy bốn không ba năm gam) loại Methamphetamine.
- - Gói 2: Tinh thể không màu được kí hiệu mẫu m₂ cần giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,8870g (không phẩy tám tám bảy không gam) loại Methamphetamine.
Vật chứng thu giữ:
Thu giữ của Bùi Văn T
- - 02 gói ma túy, niêm phong số vụ 335/2023
- - Xe máy biển số 50N2 – 302.15, do Đào Minh H2 đứng tên chủ sở hữu, anh H2 bán xe cho người khác nhưng không nhớ họ tên, địa chỉ của người mua. Bùi Văn T khai mượn xe của người tên H4 (chưa xác định lai lịch) để làm phương tiện đi lại. Cơ quan điều tra đã đăng báo tìm chủ sở hữu nhưng chưa có người đến liên hệ.
- - 01 điện thoại di động hiệu Vivo, T dùng để liên lạc mua bán ma túy.
- - 01 hộp đen có dây kéo; 01 hộp quẹt gas, 01 cân tiểu ly, 01 đoạn ống hút nhựa có đầu cắt nhọn, 01 cây kéo kim loại, một số gói nylon bên trong không chứa gì.
Thu giữ của Hồ Anh V:
- - 01 điện thoại di động hiệu Microsoft, sử dụng vào việc liên lạc mua túy;
- - 500.000 đồng tiền ngân hàng Nhà nước Việt Nam là tiền dùng để mua ma túy.
Tại Bản cáo trạng số: 238/CT-VKSH.HM ngày 29 tháng 9 năm 2023 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Bùi Văn T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh sau khi nêu lại nội dung vụ án, phân tích tính chất và hậu quả của vụ án đối với xã hội, những tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo đã giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị tuyên bố bị cáo Bùi Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- - Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Bùi Văn T từ 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù đến 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù.
- - Phạt bổ sung bị cáo Bùi Văn T từ 5.000.000 (năm triệu) đồng đến 10.000.000 (mười triệu) đồng để sung quỹ Nhà nước.
- - Về tiền thu lợi bất chính: Buộc bị cáo nộp lại số tiền thu lợi bất chính là 250.000 (hai trăm năm mươi ngàn) đồng để sung quỹ Nhà Nước.
- - Về xử lý vật chứng của vụ án:
- + Tịch thu tiêu hủy: 02 gói ma túy, niêm phong số vụ 335/2023; 01 hộp đen có dây kéo, 01 hộp quẹt gas, 01 cân tiểu ly, 01 đoạn ống hút nhựa có đầu cắt nhọn, 01 cây kéo kim loại, một số gói nylon bên trong không chứa gì.
- + Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Vivo thu của T và 01 điện thoại di động hiệu Microsoft thu của V do sử dụng vào việc liên lạc mua bán túy; Số tiền 500.000 (năm trăm ngàn) đồng tiền ngân hàng Nhà nước Việt Nam dùng để mua ma túy của V.
- + Đối với chiếc xe máy biển số 50N2 – 302.15, số khung RLHJA3928NY244690, số máy JA39E-2741707. Giao cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng trong thời hạn 06 tháng để truy tìm chủ sở hữu hợp pháp đối với chiếc xe gắn máy nêu trên. Trong trường hợp quá thời hạn 06 tháng mà không có chủ sở hữu nào đến nhận thì tịch thu sung quỹ Nhà nước.
có chủ sở hữu nào đến nhận thì tịch thu sung quỹ Nhà nước.
Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu và xin được hưởng mức án nhẹ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Hóc Môn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án là hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã khai nhận tại cơ quan điều tra. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với Bản kết luận điều tra của Công an huyện Hóc Môn, với bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, đồng thời phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử nhận thấy đã có đủ cơ sở pháp lý để kết luận: Khoảng 11 giờ 00 phút ngày 16/02/2023, Bùi Văn T có hành vi cất giấu 1,2905 gram ma túy ở thể rắn loại Methamphetamine, mục đích để bán cho người nghiện thì bị phát hiện. T bán ma túy cho Hồ Anh V 02 lần vào ngày 14/02/2023 và ngày 15/02/2023 đến lần thứ 3 thì bị phát hiện bắt quả tang tại trước khách sạn T1 địa chỉ D ấp H, xã B, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.
Hành vi nêu trên của bị cáo Bùi Văn T đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” thuộc trường hợp “Phạm tội 02 lần trở lên”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố để xét xử bị cáo theo điều luật đã viện dẫn nêu trên là đúng người, đúng tội, nên buộc các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.
[3] Hành vi của bị cáo là rất nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước đối với chất ma túy. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo biết rõ ma túy có tác hại khó lường, rất nguy hiểm, không chỉ hủy hoại sức khỏe của người sử dụng mà còn ảnh hưởng xấu đến gia đình và cộng đồng, là nguồn gốc phát sinh nhiều loại tội phạm khác, gây mất trật tự trị an tại địa phương và khó khăn trong việc phòng chống tội phạm. Nhưng vì muốn có tiền tiêu xài, bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần có mức án nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra, phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm cải tạo, giáo dục riêng cho bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
[4] Tình tiết giảm nhẹ: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự cho bị cáo là phù hợp.
[5] Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định Điều 52 Bộ luật hình sự.
[6] Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, từng bị xét xử về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo Bản án số 21/2014/HSST của Tòa án nhân dân huyện Đức Huệ, tỉnh Long An và từng bị Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời hạn 21 tháng, chấp hành xong ngày 09/9/2018.
[7] Hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính, cần áp dụng khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự, phạt bổ sung bị cáo số tiền 5.000.000 (năm triệu) đồng để sung quỹ Nhà nước.
[8] Về tiền thu lợi bất chính: Tại phiên tòa bị cáo khai nhận đã thu lợi bất chính số tiền là 250.000 (Hai trăm năm mươi ngàn) đồng nên buộc bị cáo nộp lại toàn bộ số tiền thu lợi bất chính để sung quỹ Nhà Nước.
[9] Về xử lý vật chứng:
- - Tịch thu tiêu hủy: 02 gói ma túy, niêm phong số vụ 335/2023; 01 hộp đen có dây kéo, 01 hộp quẹt gas, 01 cân tiểu ly, 01 đoạn ống hút nhựa có đầu cắt nhọn, 01 cây kéo kim loại, một số gói nylon bên trong không chứa gì.
- - Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Vivo thu của T và 01 điện thoại di động hiệu Microsoft thu của V do sử dụng vào việc liên lạc mua bán túy; Số tiền 500.000 (năm trăm ngàn) đồng tiền ngân hàng Nhà nước Việt Nam dùng để mua ma túy của V.
- - Đối với chiếc xe máy biển số 50N2 – 302.15, số khung RLHJA3928NY244690, số máy JA39E-2741707. Giao cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng trong thời hạn 06 tháng để truy tìm chủ sở hữu hợp pháp đối với chiếc xe gắn máy nêu trên. Trong trường hợp quá thời hạn 06 tháng mà không có chủ sở hữu nào đến nhận thì tịch thu sung quỹ Nhà nước.
[10] Đối với Hồ Anh V là người mua ma túy của T, Cơ quan điều tra đã giao V cho Công an xã B xử lý nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[11] Đối với các đối tượng bán và mua ma túy của Bùi Văn T, cơ quan điều tra tiếp tục làm rõ, xử lý sau.
[12] Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1/ Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo Bùi Văn T 08 (tám) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Thời hạn tù được tính từ ngày 16/02/2023.
2/ Căn cứ vào Điều 329 Bộ Luật tố tụng hình sự;
Tạm giam bị cáo 45 (Bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
3/ Căn cứ vào khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Hình phạt phạt bổ sung: Phạt bổ sung đối với bị cáo số tiền 5.000.000 (Năm triệu) đồng để sung quỹ Nhà nước.
4/ Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
- - Về tiền thu lợi bất chính: Buộc bị cáo nộp lại số tiền thu lợi bất chính là 250.000 (hai trăm năm mươi ngàn) đồng để sung quỹ Nhà Nước.
- - Xử lý vật chứng:
- + Tịch thu tiêu hủy: 02 gói ma túy, niêm phong số vụ 335/2023; 01 hộp đen có dây kéo, 01 hộp quẹt gas, 01 cân tiểu ly, 01 đoạn ống hút nhựa có đầu cắt nhọn, 01 cây kéo kim loại, một số gói nylon bên trong không chứa gì.
- + Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Vivo thu của T và 01 điện thoại di động hiệu Microsoft thu của V do sử dụng vào việc liên lạc mua bán túy; Số tiền 500.000 (năm trăm ngàn) đồng tiền ngân hàng Nhà nước Việt Nam dùng để mua ma túy của V.
- + Đối với chiếc xe máy biển số 50N2 – 302.15, số khung RLHJA3928NY244690, số máy JA39E-2741707. Giao cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng trong thời hạn 06 tháng để truy tìm chủ sở hữu hợp pháp đối với chiếc xe gắn máy nêu trên. Trong trường hợp quá thời hạn 06 tháng mà không có chủ sở hữu nào đến nhận thì tịch thu sung quỹ Nhà nước.
(Vật chứng của vụ án hiện đang được lưu giữ tại kho vật chứng thuộc Chi cục thi hành án dân sự huyện Hóc Môn theo Quyết định chuyển vật chứng số 199/QĐ-VKS-HS ngày 19/9/2023; Biên bản giao nhận vật chứng ngày 02/10/2023; Lệnh thanh toán tiền mặt ngày 19/5/2023 của Ngân hàng A – Chi nhánh H5).
5/ Căn cứ vào khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
6/ Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự;
Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dương Thị Mỹ Linh |
Bản án số 274/2023/HS-ST ngày 28/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN về hình sự sơ thẩm (mua bán trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 274/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Mua bán trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bùi Văn T phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy
