Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 274/2024/DS-PT

Ngày: 27 – 5 – 2024

V/v tranh chấp

Quyền sử dụng đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Tuấn Anh.

Các Thẩm phán: Ông Sỹ Danh Đạt.

Bà Nguyễn Thị Võ Trinh.

- Thư ký phiên toà:

Bà Phan Thị Kim Loan - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên toà:

Ông Phan Trung Quốc - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 16 tháng 5 và 27 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 47/2024/TLPT-DS ngày 22 tháng 01 năm 2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 55/2023/DS-ST ngày 13 tháng 11 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp bị kháng cáo;

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 210/2024/QĐ-PT ngày 21 tháng 3 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Lê Thị K, sinh năm 1939.

    Địa chỉ: Ấp E, xã H, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

    Đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn:

    Ông Lê Phi T, sinh ngày 26/11/1956- Luật sư, Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Đ (Theo văn bản ủy quyền ngày 11/01/2024) (có mặt).

    Địa chỉ: Số B, Quốc lộ C, ấp B, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

  2. Bị đơn: Lê Thị Bé T1, sinh năm 1984.

    Địa chỉ: Ấp E, xã H, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

    Đại diện theo uỷ quyền của bị đơn:

    Anh Trần Thanh H (Theo văn bản ủy quyền ngày 26/3/2024) (có mặt tại phiên toà ngày 16/5/2024, có đơn xin vắng mặt phiên toà ngày 27/5/2024).

    Địa chỉ: Ấp N, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

    Nguyễn Văn C, sinh năm 1980 (vắng mặt).

    Địa chỉ: ấp E, xã H, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

Người kháng cáo:Lê Thị Bé T1 là bị đơn trong vụ án.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn trình bày: Nguyên đơn là bà Lê Thị K có diện tích đất 2.063m², trong đó có 300m² đất ở, phần còn lại là đất trồng cây lâu năm tại thửa 982, tờ bản đồ số 4, toạ lạc tại xã H, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

Con ruột của bà K là chị Lê Thị Bé T1 sống chung với bà K, do tuổi cao sức yếu, nên bà K đồng ý sang tên quyền sử dụng đất lại cho chị T1 để thuận tiện trong các giao dịch nhưng với điều kiện chị T1 phải chăm sóc bà K đến cuối đời và thờ cúng bà sau này. Chị T1 đã đồng ý theo điều kiện của bà K đưa ra.

Sau khi bà K lập hợp đồng tặng cho phần đất trên cho chị T1 xong, thì chị T1 không lo làm ăn, không chăm sóc bà K mà luôn ăn chơi, ngược đãi bà K, còn có ý định sang bán ngôi nhà từ đường của bà K và vợ chồng T1 đã bỏ bà K đi nơi khác. Do quá bức xúc, nên bà K yêu cầu chị T1 sang tên lại cho bà, chị T1 không đồng ý nên bà K có làm đơn yêu cầu Ban N, xã H, huyện T giải quyết. Ngày 12/3/2022, vụ việc đã được đưa ra hoà giải. Tại buổi hoà giải, chị T1 đồng ý chuyển quyền sử dụng đất lại cho bà K với 02 điều kiện:

Một là, bà K phải cho chị T1 diện tích đất có chiều ngang 7,5m, chiều dài ra sau hậu, tổng diện tích là 900m² tại thửa 982, tờ bản đồ số 4.

Hai là, bà K phải đưa cho chị T1 2.000m² đất ruộng mà trước đây bà K cho chị T1 (bằng giá trị) với số tiền là 320.000.000 đồng.

Tại buổi hoà giải trên, bà K thống nhất theo yêu cầu của chị T1. Bà K đã giao cho chị T1 nhận tiền xong và đã sử dụng diện tích đất trên, nhưng chị T1 không làm thủ tục sang tên chuyển quyền sử dụng đất lại cho bà K (diện tích đất trên bà K vẫn sử dụng như từ trước đến nay). Nay bà K yêu cầu chị T1 phải chuyển quyền sử dụng đất diện tích 1.623,7m² (Trong phần diện tích 2.063m² vì bà K đã cho chị T1 900m²) tại thửa 982, tờ bản đồ số 4, toạ lạc tại xã H, huyện T, tỉnh Đồng Tháp. Bà K đồng ý cho chị T1 900m² như các anh em trong gia đình.

Tại phiên toà sơ thẩm, bà K không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ gì khác. Thống nhất giá trị quyền sử dụng đất tranh chấp là 1.100.000.000 đồng, căn nhà trị giá 300.000.000 đồng và các cây trồng trên đất không tranh chấp theo biên bản thoả thuận ngày 28/8/2023, ngoài ra không yêu cầu gì khác.

- Đại diện theo uỷ quyền của bị đơn trình bày: Bà Lê Thị K là mẹ ruột của bị đơn Lê Thị Bé T1. Từ nhỏ đến lớn chị T1 sống với bà K. Bà K có diện tích đất ruộng là 10.000m², do bà K đứng tên. Năm 2021, bà K có ý định bán nên vợ chồng chị T1 bàn với bà K bán đất ở để lại đất ruộng, bà K đồng ý theo yêu cầu của chị T1 và bà K sang tên cho chị T1 đứng tên với điều kiện chị T1 phải nuôi, chăm sóc bà K đến cuối đời và thờ cúng sau này. Năm 2022, khi Nhà nước làm lộ, toàn bộ diện tích đất trên có giá trị nên bà K đã bán toàn bộ diện tích đất ruộng, trong đó có phần của chị T1 là 2.000m² với số tiền 320.000.000 đồng, bà K đưa đủ số tiền trên cho chị T1. Do hoàn cảnh khó khăn, vợ chồng chị T1 phải đi làm ăn xa nên chị T1 để 02 đứa con của chị T1 ở lại với bà K, vợ chồng chị T1 cũng thường xuyên về thăm nom, chăm sóc bà K như đã hứa.

Nay bà K yêu cầu chị T1 phải sang tên chuyển quyền sử dụng đất diện tích 2.063m² (theo sơ đồ đo đạc là 2.523,7m² ), trong đó có 300m² đất thổ và 1.763m² đất cây lâu năm, tại thửa 982, tờ bản đồ số 4, toạ lạc tại xã H, huyện T, tỉnh Đồng Tháp lại cho bà K, thì chị T1 không đồng ý theo yêu cầu của bà K. Vì diện tích đất này bà K đã tặng cho chị T1 vào năm 2021 và chị T1 đứng tên. Chị T1 yêu cầu Toà án căn cứ theo pháp luật giải quyết. Tại phiên toà sơ thẩm, đại diện theo uỷ quyền của chị T1 không cung cấp tài liệu chứng cứ gì khác, thống nhất giá trị quyền sử dụng đất tranh chấp là 1.100.000.000 đồng, căn nhà trị giá 300.000.000 đồng và các cây trồng trên đất không tranh chấp theo biên bản thoả thuận ngày 28/8/2023, ngoài ra không yêu cầu gì khác.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Văn C trình bày: Anh là chồng của chị Lê Thị Bé T1, vợ chồng anh kết hôn với nhau vào năm 2004, sau khi kết hôn thì sống chung với bà K. Trong thời gian sống chung, bà K có cho vợ chồng anh 05 công đất ruộng. Do làm ăn thất bại, hoàn cảnh vợ chồng quá khó khăn nên vợ chồng bán 03 công, còn lại 02 công. Đến năm 2014, bà K cho vợ chồng anh 01 nền nhà tổng diện tích 2.063m², trong đó có 300m² đất thổ và 1.673m² đất trồng cây lâu năm. Đến năm 2021, bà K đã tự nguyện sang tên cho vợ anh là Lê Thị Bé T1 đứng tên, sau khi làm thủ tục chuyển quyền sử dụng đất, tất cả anh em trong gia đình đều biết và không ai có ý kiến hay tranh chấp gì hết. Nay bà K yêu cầu vợ anh là chị T1 chuyển quyền sử dụng diện tích đất trên lại cho bà K, anh không đồng ý. Đối với số tiền 320.000.000 đồng mà chị T1 nhận của bà K là tiền bán 02 công đất ruộng của vợ chồng chứ không phải tiền của bà K. Anh C yêu cầu Toà án căn cứ theo pháp luật giải quyết, ngoài ra anh không yêu cầu gì khác.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 55/2023/DS-ST ngày 13 tháng 11 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Tam Nông đã xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu của bà Lê Thị K đối với chị Lê Thị Bé T1 về việc yêu cầu chị T1 giao trả lại đất.

    Giữ y phần đất tranh chấp có diện là tích 1.623,7m², thuộc một phần thửa 982, tờ bản đồ số 4 (trong đó có 300m² đất ở), Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ CS04097, cấp ngày 31/12/2021 do chị Lê Thị Bé T1 đứng tên, cho bà Lê Thị K tiếp tục quản lý và sử dụng (hiện trên đất có căn nhà của bà K), cụ thể như sau:

    • - H: Giáp lộ nhựa Hòa Bình - P, đo từ mốc M1 đến mốc M2 có cạnh là 34,54m.

    • - Hướng Tây: Giáp phần còn lại của thửa 982, đo từ mốc M9 đến mốc M10 có cạnh là 33,77m.

    • - H: Giáp phần còn lại của thửa 982, đo từ mốc M2 đến mốc M11 có cạnh là 8,81m. Đo từ mốc M11 đến góc nền là 37,22m. Đo từ góc nền đến mốc M10 có cạnh là 12,21m.

    • - Hướng Bắc: Giáp đất ông Lê Văn Bé C1, đo từ mốc M1 đến mốc M9 có cạnh là 49,16m.

    Lê Thị K được quản lý và sử dụng toàn bộ cây trồng có trên diện tích đất nêu trên.

  2. Công nhận sự tự nguyện của bà Lê Thị K về việc giao lại đất cho chị Lê Thị Bé T1 quản lý và sử dụng.

    Chị Lê Thị Bé T1 được tiếp tục quản lý và sử dụng diện tích 900m² thuộc phần còn lại của thửa 982, tờ bản đồ số 4 đất trồng cây lâu năm (Hiện chị T1 đang sử dụng), Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ CS04097, cấp ngày 31/12/2021 do chị Lê Thị Bé T1 đứng tên, cụ thể như sau:

    • - H: Giáp lộ nhựa Hòa Bình - P, đo từ mốc M2 đến mốc M3 có cạnh là 8,25m. Đo từ mốc M10 đến mốc M9 có cạnh là 33,77m.

    • - Hướng Tây: Giáp Kênh, đo từ mốc M5 đến mốc M6 có cạnh là 37,23m. Đo từ mốc M6 đến mốc M7 có cạnh là 3,42m.

    • - H: Giáp đất ông Phan Văn B, đo từ mốc M3 đến mốc M4 có cạnh là 59,88m. Đo từ mốc M4 đến mốc M5 có cạnh là 0,57m.

    • - Hướng Bắc: Giáp phần còn lại của thửa 982, đo từ mốc M2 đến mốc M11 có cạnh 8,81m, đo từ mốc M11 đến góc nền là 37,22m, đo từ góc nền đến mốc M10 có cạnh là 12,21m.

    Chị Lê Thị Bé T1 được tiếp tục quản lý và sử dụng các cây trồng có trên diện tích đất nêu trên.

    Theo sơ đồ đo đạc ngày 11/5/2023 của Công ty TNHH D và biên bản xem xét thẩm định tại chỗ của Tòa án.

  3. Buộc chị Lê Thị Bé T1 có trách nhiệm đến Cơ quan có thẩm quyền để làm thủ tục sang tên diện tích 1.623,7m², thuộc một phần tại thửa 982, tờ bản đồ số 4, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ CS04097, cấp ngày 31/12/2021 do chị Lê Thị Bé T1 đứng tên cho bà Lê Thị K theo quy định.

  4. Lê Thị K được đến Cơ quan có thẩm quyền để đăng ký lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích 1.623,7m² nêu trên theo quy định.

  5. Lê Thị K có trách nhiệm di dời mái che lấn qua đất của chị T1 có chiều ngang 0,8m, chiều dài 22m.

    Theo sơ đồ đo đạc ngày 11/5/2023 của Công ty TNHH D và biên bản xem xét thẩm định tại chỗ của Tòa án.

  6. Về chi phí tố tụng: Chị Lê Thị Bé T1 có trách nhiệm trả lại cho bà Lê Thị Khóa s tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 3.143.000 đồng (Ba triệu một trăm bốn mươi ba ngàn đồng).

  7. Về án phí dân sự sơ thẩm:

    Chị Lê Thị Bé T1 phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Ngoài ra Bản án sơ thẩm còn tuyên thời hạn, quyền kháng cáo; quyền, nghĩa vụ, thời hiệu thi hành án của các đương sự.

Sau khi xét xử sơ thẩm, đến ngày 29/11/2023 bị đơn Lê Thị Bé T1 kháng cáo Bản án dân sự sơ thẩm số 55/2023/DS-ST ngày 13 tháng 11 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Tam Nông yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết sửa toàn bộ Bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị K, để chị Lê Thị Bé T1 được tiếp tục quản lý, sử dụng đối với thửa đất số 982, tờ bản đồ số 4, tại xã H, huyện T, tỉnh Đồng Tháp, diện tích 2.063m², mục đích sử dụng: đất ở 300m², đất trồng cây lâu năm 1.763m², được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp cho chị Lê Thị Bé T1 ngày 31/12/2021.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Anh Trần Thanh H đại diện theo ủy quyền của bị đơn Lê Thị Bé T1 trình bày: Yêu cầu Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của chị T1 như nêu trên. Lý do: Vì diện tích đất này bà K đã tặng cho chị T1 vào năm 2021 và hiện nay chị T1 đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, chị T1 yêu cầu Toà án căn cứ theo pháp luật giải quyết.

Ông Lê Phi T là đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Lê Thị K trình bày: Bà K không thống nhất theo yêu cầu kháng cáo của bị đơn Lê Thị Bé T1 như nêu trên. Bên nguyên đơn yêu cầu Hội đồng xét xử phúc thẩm giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm do kháng cáo của chị T1 là không có cơ sở.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu ý kiến:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán: Thẩm phán đã chấp hành đúng, đầy đủ các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và các văn bản quy phạm pháp luật từ khi thụ lý, giải quyết vụ án để xét xử phúc thẩm đến trước thời điểm nghị án.

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Hội đồng xét xử phúc thẩm, Thư ký phiên toà: Đã thực hiện đúng, đầy đủ các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc xét xử phúc thẩm vụ án dân sự.

- Về việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Đối với đương sự đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 71, 72, 73 và Điều 234 Bộ luật Tố tụng dân sự. Người đại diện theo uỷ quyền đã thực hiện đúng Điều 86, Điều 234 Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về việc giải quyết vụ án dân sự: Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn Lê Thị Bé T1; tuyên xử giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 55/2023/DS-ST ngày 13 tháng 11 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu và chứng cứ có trong hồ sơ, được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, lời phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

Tòa án nhân dân huyện Tam Nông thụ lý và giải quyết sơ thẩm vụ án “Tranh chấp Quyền sử dụng đất” là đúng quy định tại khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm c khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị đơn Lê Thị Bé T1 không thống nhất Bản án sơ thẩm nên đã kháng cáo. Việc chị T1 nộp đơn kháng cáo vào ngày 29/11/2023 là trong thời hạn kháng cáo theo quy định tại Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự, nên vụ án được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Về nội dung:

[2.1] Căn cứ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và qua xét xử tại phiên tòa phúc thẩm, bên nguyên đơn và bên bị đơn đều thừa nhận rằng: Phần đất có diện tích 2.063m², thuộc thửa 982, tờ bản đồ số 4, toạ lạc tại xã H, huyện T, tỉnh Đồng Tháp có nguồn gốc là của nguyên đơn bà Lê Thị K quản lý và sử dụng. Năm 2021, bà K lập hợp đồng tặng cho toàn bộ phần đất này cho con là chị Lê Thị Bé T1, với điều kiện là chị T1 phải có nghĩa vụ chăm sóc, phụng dưỡng bà K đến cuối đời và tiếp tục thờ cúng bà K sau này. Mặc dù việc thỏa thuận giữa bà K và chị T1 về điều kiện chị T1 phải có trách nhiệm chăm sóc, phụng dưỡng bà K đến cuối đời và thờ cúng bà K sau khi nhận phần đất trên từ bà K không được bà K và chị T1 lập thành văn bản, nhưng điều kiện này đã được chị T1 thừa nhận trong Biên bản lấy lời khai ngày 16/6/2023, cụ thể tại biên bản lấy lời khai ngày 16/6/2023 chị T1 trình bày: “Bà K sang tên cho tôi với điều kiện tôi phải phụng dưỡng bà đến cuối đời, tôi đồng ý nên bà mới sang tên cho tôi” (Bút lục 68). Tại phiên toà phúc thẩm, đại diện theo uỷ quyền của chị T1 cũng thừa nhận lời khai này của bị đơn.

Như vậy, có đủ cơ sở kết luận rằng việc bà K lập hợp đồng tặng cho chị T1 phần đất trên với điều kiện là chị T1 phải có trách nhiệm chăm sóc, phụng dưỡng bà K theo thỏa thuận giữa hai bên. Tuy nhiên, sau khi bà K tặng cho phần đất trên cho chị T1 xong, chị T1 không thực hiện nghĩa vụ của mình như thỏa thuận là chăm sóc, phụng dưỡng bà K, mà vợ chồng chị T1 thường xuyên bỏ nhà đi, trong khi bà K đã tuổi cao sức yếu, bà rất cần có người ở gần chăm sóc, dẫn đến bà K bức xúc khởi kiện đòi lại phần đất trên.

[2.2] Tại Biên bản hòa giải ngày 12/3/2022 của Ban N, xã H, huyện T, chị T1 thừa nhận phần đất có diện tích 2.063m² thuộc thửa 982, tờ bản đồ số 4 hiện do chị T1 đứng tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là của bà K và đồng ý trả lại, nhưng chị T1 yêu cầu bà K trả lại cho chị 320.000.000 đồng (giá trị 2.000m² đất mà chị T1 cho rằng bà K đã cho chị). Đồng thời, chị T1 còn yêu cầu bà K cho lại chị 900m² đất (trong phần diện tích 2.063m² thuộc thửa 982). Phần diện tích đất còn lại, chị thống nhất sang tên giao trả lại cho bà K.

Sau khi thỏa thuận xong, bà K đã thực hiện xong trách nhiệm của mình là giao cho chị T1 320.000.000 đồng theo thỏa thuận và đồng ý cho lại chị T1 900m² đất theo như biên bản hòa giải, cụ thể tại biên nhận tiền (có sự chứng kiến của ông Lê Văn K1 là Trưởng Ban N) thể hiện chị T1 có nhận của bà Khóa số tiền 320.000.000 đồng và cam kết trong thời hạn 10 ngày sẽ làm thủ tục sang tên trả lại thửa đất trên cho bà K. Tuy nhiên, từ khi chị T1 nhận số tiền trên cho đến nay vẫn không thực hiện đúng theo nghĩa vụ của mình là sang tên giao trả lại phần đất tranh chấp cho bà K quản lý và sử dụng.

Bên cạnh đó, hồ sơ vụ án còn thể hiện trước đây bà K cũng có chia cho chị T1 05 công đất ruộng như những người con khác, nhưng chị T1 mang chuyển nhượng cho ông Phan Văn B. Tại Biên bản ghi lời khai của ông Phan Văn B vào ngày 31/8/2023 (Bút lục 82) ông B khai rằng trước đây ông có mua đất của chị T1 diện tích khoảng 4,6 công đất ruộng, đã thanh toán xong, chị T1 đứng ra bán và chị T1 là người nhận tiền. Do đó, phần 05 công đất ruộng mà bà K cho chị T1 thì chị T1 đã chuyển nhượng cho ông B xong, chị T1 cũng đã nhận tiền của ông B, còn số tiền 320.000.000 đồng mà bà K thoả thuận giao cho chị T1 là một trong các điều kiện để bà K được nhận lại đất tranh chấp ở thửa 982 theo biên bản hoà giải ngày 12/3/2022.

Như vậy, có căn cứ xác định phần đất tranh chấp là của bà K và bà K cũng đã thực hiện xong thỏa thuận của mình đối với chị T1, nên chị T1 phải có trách nhiệm sang tên giao trả lại phần đất trên cho bà K là phù hợp và có căn cứ chấp nhận. Hơn nữa, trên đất này có khu mồ mã gia tộc, có căn nhà của bà K đang ở từ rất lâu, bà K đã lớn tuổi nên giao cho bà K quản lý, sử dụng đất là phù hợp. Do đó, việc Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở.

[3] Tại phiên toà phúc thẩm, đại diện theo uỷ quyền của chị Lê Thị Bé T1 khai là Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích 2.063 m², thửa số 982, tờ Bản đồ số 4, toạ lạc tại xã H, huyện T hiện tại chị T1 vẫn đang giữ.

[4] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm không có cơ sở để chấp nhận kháng cáo của bị đơn Lê Thị Bé T1, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

[5] Hội đồng xét xử xét thấy phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên toà phúc thẩm là có căn cứ pháp luật, nên chấp nhận.

[6] Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo của bị đơn Lê Thị Bé T1 không được chấp nhận, nên chị T1 phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

[7] Các phần quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự.

    Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn Lê Thị Bé T1.

    Giữ nguyên quyết định của Bản án dân sự sơ thẩm số 55/2023/DS-ST ngày 13 tháng 11 năm 2023 của Toà án nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp.

  2. Căn cứ các Điều 26, 35, 39, 147, 186, 227, 228, 234 và Điều 235 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 166, 167, 202 và Điều 203 của Luật đất đai; khoản 2 Điều 26, khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án tuyên xử.

    2.1. Chấp nhận yêu cầu của bà Lê Thị K đối với chị Lê Thị Bé T1 về việc yêu cầu chị T1 giao trả lại đất.

    Giữ nguyên phần đất tranh chấp có diện là tích 1.623,7m², thuộc một phần thửa 982, tờ bản đồ số 4 (trong đó có 300m² đất ở), Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ CS04097, cấp ngày 31/12/2021 do chị Lê Thị Bé T1 đứng tên, cho bà Lê Thị K tiếp tục quản lý và sử dụng (hiện trên đất có căn nhà của bà K), cụ thể như sau:

    • - H: Giáp lộ nhựa Hòa Bình - P, đo từ mốc M1 đến mốc M2 có cạnh là 34,54m.

    • - Hướng Tây: Giáp phần còn lại của thửa 982, đo từ mốc M9 đến mốc M10 có cạnh là 33,77m.

    • - H: Giáp phần còn lại của thửa 982, đo từ mốc M2 đến mốc M11 có cạnh là 8,81m. Đo từ mốc M11 đến góc nền là 37,22m. Đo từ góc nền đến mốc M10 có cạnh là 12,21m.

    • - Hướng Bắc: Giáp đất ông Lê Văn Bé C1, đo từ mốc M1 đến mốc M9 có cạnh là 49,16m.

    Lê Thị K được quản lý và sử dụng toàn bộ cây trồng có trên diện tích đất nêu trên.

    2.2. Công nhận sự tự nguyện của bà Lê Thị K về việc giao lại đất cho chị Lê Thị Bé T1 quản lý và sử dụng.

    Chị Lê Thị Bé T1 được tiếp tục quản lý và sử dụng diện tích 900m² thuộc phần còn lại của thửa 982, tờ bản đồ số 4 đất trồng cây lâu năm (Hiện chị T1 đang sử dụng), Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ CS04097, cấp ngày 31/12/2021 do chị Lê Thị Bé T1 đứng tên, cụ thể như sau:

    • - H: Giáp lộ nhựa Hòa Bình - P, đo từ mốc M2 đến mốc M3 có cạnh là 8,25m. Đo từ mốc M10 đến mốc M9 có cạnh là 33,77m.

    • - Hướng Tây: Giáp Kênh, đo từ mốc M5 đến mốc M6 có cạnh là 37,23m. Đo từ mốc M6 đến mốc M7 có cạnh là 3,42m.

    • - H: Giáp đất ông Phan Văn B, đo từ mốc M3 đến mốc M4 có cạnh là 59,88m. Đo từ mốc M4 đến mốc M5 có cạnh là 0,57m.

    • - Hướng Bắc: Giáp phần còn lại của thửa 982, đo từ mốc M2 đến mốc M11 có cạnh 8,81m, đo từ mốc M11 đến góc nền là 37,22m, đo từ góc nền đến mốc M10 có cạnh là 12,21m.

    Chị Lê Thị Bé T1 được tiếp tục quản lý và sử dụng các cây trồng có trên diện tích đất nêu trên.

    Theo sơ đồ đo đạc ngày 11/5/2023 của Công ty TNHH D và biên bản xem xét thẩm định tại chỗ của Tòa án nhân dân huyện Tam Nông.

    2.3. Buộc chị Lê Thị Bé T1 có trách nhiệm đến Cơ quan có thẩm quyền để làm thủ tục sang tên diện tích 1.623,7m², thuộc một phần tại thửa 982, tờ bản đồ số 4, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ CS04097, cấp ngày 31/12/2021 do chị Lê Thị Bé T1 đứng tên cho bà Lê Thị K theo quy định.

    2.4. Bà Lê Thị K được đến Cơ quan có thẩm quyền để đăng ký lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích 1.623,7m² nêu trên theo quy định.

    2.5. Bà Lê Thị K có trách nhiệm di dời mái che lấn qua đất của chị T1 có chiều ngang 0,8m, chiều dài 22m.

    Theo sơ đồ đo đạc ngày 11/5/2023 của Công ty TNHH D và biên bản xem xét thẩm định tại chỗ của Tòa án.

  3. Về chi phí tố tụng: Chị Lê Thị Bé T1 có trách nhiệm trả lại cho bà Lê Thị Khóa s tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chổ là 3.143.000 đồng (Ba triệu một trăm bốn mươi ba ngàn đồng).

    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

  4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Lê Thị Bé T1 phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.

  5. Về án phí dân sự phúc thẩm: Chị Lê Thị Bé T1 phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự phúc thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu số 0004956 ngày 29/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp. Chị T1 đã nộp xong án phí dân sự phúc thẩm.

  6. Các phần quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

    Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

    Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND Tỉnh;
  • - Phòng GĐ-KT TAND Tỉnh;
  • - TAND H. Tam Nông;
  • - Chi cục THADS H. Tam Nông;
  • - Đương sự;
  • - Lưu: VT, HSVA, TDS (Loan).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Tuấn Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 274/2024/DS-PT ngày 27/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 274/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 27/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Thị K - Lê Thị Bé T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger