|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 274/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 26 - 4 - 2024
V/v Ly hôn và tranh chấp nuôi con khi ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Bùi Văn Chiến
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Đặng Văn Tác
- Ông Võ Văn Tám
- Thư ký phiên toà: Ông Trần Thiện Nhân - Thư ký Toà án nhân dân huyện Phú Tân.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện tham gia phiên toà: ông Lưu Tiến Dũng – Kiểm sát viên sơ cấp
Trong ngày 26 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 120/2024/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 02 năm 2024 về tranh chấp Hôn nhân và Gia đình “ Ly hôn và tranh chấp nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 129/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 113/QÐST - HNGĐ, ngày 22 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: chị Thái Thị Kiêm H, sinh năm 1989.
Nơi cư trú: số A, ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang. Số điện thoại: 0349.464.xxx;
2. Bị đơn: anh Phạm Văn D, sinh năm 1983.
Nơi cư trú: số H, tổ A, ấp B, xã B, huyện P, tỉnh An Giang. Số điện thoại: 0974.110.xxx;
(chị H xin vắng mặt, anh D vắng mặt)
2
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và quá trình hòa giải, nguyên đơn Thái Thị Kiêm H trình bày:
Chị và anh Phạm Văn D tự tìm hiểu quen biết một thời gian được hai bên gia đình đồng ý tổ chức lễ cưới năm 2019 và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện P, tỉnh An Giang theo Giấy chứng nhận kết hôn số 40 ngày 06 tháng 5 năm 2019.
Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, sau đó phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân về chuyện tiền bạc do anh D làm công việc chống thấm ở công trình xây dựng nên thu nhập không ổn định, anh đi làm gửi tiền cho chị nuôi con, nhưng rất ít không đủ chi phí cho việc nuôi con, chị phải tự mưu sinh để lo cho con nhỏ, thời gian này chị nhiều lần trao đổi với anh D vào làm chung công ty với chị để có thu nhập ổn định, nhưng anh D không đồng ý, rồi phát sinh mâu thuẫn chị nhiều lần khuyên ngăn nhưng anh D không thay đổi, anh D thường xuyên ăn nhậu dẫn đến vợ chồng hay cãi vã, đến tháng 07/2023 thì ly thân cho đến nay, quá trình ly thân anh D cũng không liên lạc để hàn gắn tình cảm. Nay tình cảm không còn nên yêu cầu được ly hôn với anh Phạm Văn D.
Về con chung: có 02 con chung tên Phạm Tấn P, sinh ngày 10/3/2021 và Phạm Tấn Đ, sinh ngày 24/4/2023, hiện chị đang nuôi dưỡng. Nay ly hôn, chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng 02 con, chị không yêu cầu anh D cấp dưỡng cho con.
Về tài sản chung và nợ chung: không có, không yêu cầu Toá án giải quyết.
* Anh Phạm Văn D vắng mặt từ khi Toà án thụ lý vụ án nên không có ý kiến trình bày
Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân:
- Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định pháp luật, tuy nhiên anh D vắng mặt suốt quá trình tố tụng là chấp hành pháp luật chưa nghiêm, anh cũng được tống đạt triệu tập để nghe xét xử đến lần thứ 2 mà vẫn vắng mặt, chị H có đơn xin vắng mặt và có ý kiến trình bày rõ ràng yêu cầu của mình, do đó đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) xét xử vắng mặt anh D và chị H theo Điều 227 và Điều 228 Bộ Luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Hôn nhân của anh, chị do hai người tìm hiểu được gia đình hai bên đồng ý, tổ chức lễ cưới năm 2019, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện P, tỉnh An Giang, thời gian đầu chung sống hạnh phúc sau đó phát sinh mâu thuẫn do cuộc sống khó khăn, anh D làm công thu nhập thấp, chị H muốn anh chuyển sang nghề khác để có thu nhập cao hơn lo cho con và gia đình, anh D không đồng ý thường uống rượu không quan tâm cuộc sống gia đình, chị H khuyên nhủ nhiều lần không được, anh
3
bỏ mặt cho chị H tự lo cuộc sống chăm sóc con, trong khi hai con còn quá nhỏ, sau khi ly thân anh D cũng không tạo điều kiện để hàn gắn tình cảm, từ đó tình cảm vợ chồng phai nhạt, mục đích hôn nhân không đạt được, nên chị H yêu cầu ly hôn với anh D là có căn cứ, phù hợp với lời trình bày của bà Bùi Thị H1 (mẹ ruột chị H), đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) xem xét chấp nhận.
- Về con chung: có 02 con chung tên Phạm Tấn P, sinh ngày 10/3/2021 và Phạm Tấn Đ, sinh ngày 24/4/2023, hiện chị H2 đang nuôi dưỡng. Nay ly hôn, chị H yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng 02 con, chị không yêu cầu anh D cấp dưỡng cho con. Nhận thấy việc trông nom, chăm sóc giáo dục, nuôi dưỡng con sau khi ly hôn, vợ chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên đối với con chưa thành niên, hai cháu sống với chị H cũng được nuôi dưỡng chăm sóc đảm bảo, tuy hai cháu còn quá nhỏ do chị H không có yêu cầu cấp dưỡng là thiệt thòi quyền lợi của hai cháu, nếu sau này khi cần thiết chị H có thể yêu cầu anh D cấp dưỡng cho 2 con chung để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho các cháu, do đó đề nghị hội đồng xét xử (HĐXX) giao 02 cháu cho chị H tiếp tục nuôi dưỡng, anh D không phải cấp dưỡng cho con như ý kiến của chị H cũng phù hợp với Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình.
- Về tài sản chung và nợ chung: không có tranh chấp nên không giải quyết
Đồng thời buộc các đương sự chịu án phí theo quy định của pháp luật
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Về người tham gia tố tụng: nguyên đơn chị Lê Thị Kiêm H3 yêu cầu được vắng mặt khi xét xử, chị có ý kiến trình bày rõ ràng yêu cầu của mình, bị đơn anh Phạm Văn D được tống đạt triệu tập lần thứ 2 để nghe xét xử, nhưng anh không có mặt; việc vắng mặt của anh, chị không ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án, nên HĐXX xét xử vắng mặt anh, chị theo Điều 227 và Điều 228 Bộ Luật Tố tụng dân sự để đảm bảo quyền lợi cho các bên.
[1.2] Về thẩm quyền giải quyết: hiện nay anh D cư trú tại: ấp B, xã B, huyện P, tỉnh An Giang, nên chị H3 khởi kiện xin ly hôn là thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ Luật Tố tụng dân sự.
[1.3] Về quan hệ tranh chấp: chị H3 xin ly hôn và giải quyết việc nuôi con nên quan hệ tranh chấp là “ Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo quy định tại khỏan 1 Điều 28 Bộ Luật tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung: Xét chứng cứ có trong hồ sơ thể hiện, hôn nhân của anh, chị do hai người tự tìm hiểu được cha mẹ hai bên đồng ý tổ chức lễ cưới năm 2019, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện P, tỉnh An Giang, thời gian đầu chung sống hạnh phúc sau đó phát sinh mâu thuẫn do cuộc sống khó khăn, anh D làm
4
công thu nhập thấp, chị H3 muốn anh chuyển sang nghề khác làm công nhân chung công ty với chị để có thu nhập cao hơn lo cho cuộc sống gia đình, anh D không đồng ý rồi thường xuyên uống rượu không quan tâm cuộc sống của gia đình, chị H3 khuyên nhủ nhiều lần không được, anh bỏ mặt cho chị H3 tự lo cuộc sống chăm sóc con, trong khi hai con còn quá nhỏ, sau khi ly thân anh D cũng không tạo điều kiện để hàn gắn tình cảm, từ đó tình cảm vợ chồng phai nhạt, mục đích hôn nhân không đạt được, nên chị H3 yêu cầu ly hôn với anh D là có căn cứ, phù hợp với lời trình bày của bà Bùi Thị H1 (mẹ ruột chị H3), để anh chị có cuộc sống riêng sau này, nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của H3 theo Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
- Về con chung: có 02 con chung tên Phạm Tấn P, sinh ngày 10/3/2021 và Phạm Tấn Đ, sinh ngày 24/4/2023, hiện chị H2 đang nuôi dưỡng. Nay ly hôn, chị H3 yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng 02 con, chị không yêu cầu anh D cấp dưỡng cho con. Nhận thấy việc trông nom, chăm sóc giáo dục, nuôi dưỡng con sau khi ly hôn, vợ chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên đối với con chưa thành niên, hai cháu sống với chị H3 cũng được nuôi dưỡng chăm sóc đảm bảo, tuy hai cháu còn quá nhỏ do chị H3 không có yêu cầu cấp dưỡng là thiệt thòi quyền lợi của hai cháu, nếu sau này khi cần thiết chị H3 có thể yêu cầu anh D cấp dưỡng cho 2 con chung để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho các cháu, do đó hội đồng xét xử (HĐXX) giao 02 cháu cho chị H3 tiếp tục nuôi dưỡng, anh D không phải cấp dưỡng cho con như ý kiến của chị H3 cũng phù hợp với Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình.
- Về tài sản chung và nợ chung: không có tranh chấp nên không giải quyết
[3] Về án phí: chị Thái Thị Kiêm H là người xin ly hôn, nên phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Điều 56 và Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ Luật Tố tụng Dân sự 2015;
- Căn cứ Điều 26 Luật Thi hành án dân sự;
- Căn cứ Điều 26, khoản 5 Điều 27, Điều 48 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Thái Thị Kiêm H đối với anh Phạm Văn D.
- Về hôn nhân: chị Thái Thị Kiêm H được ly hôn với anh Phạm Văn D.
5
- Về con chung: Tiếp tục giao 02 con chung tên Phạm Tấn P, sinh ngày 10/3/2021 và Phạm Tấn Đ, sinh ngày 24/4/2023 cho chị Thái Thị Kiêm H nuôi dưỡng đến thành niên hoặc tự lập được, anh Phạm Văn D không phải cấp dưỡng cho con.
- Về tài sản chung; nợ chung phải thu, phải trả: không có.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: chị Thái Thị Kiêm H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn, được khấu trừ 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0006665 ngày 26/02/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Tân, anh Phạm Văn D không phải chịu án phí.
Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt hoặc niêm yết bản sao bản án.
Trường hợp bản án, được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sư, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Văn Chiến |
Bản án số 274/2024/HNGĐ-ST ngày 26/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG về ly hôn và tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 274/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn và tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/04/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Thái Thị Kiêm H đối với anh Phạm Văn D.
