|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA TỈNH LONG AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 274/2023/HNGĐ-ST Ngày: 22-11-2023 V/v tranh chấp “Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Hải An.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Ghên
- Bà Trương Thị Kim Tiến
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hảo – là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.
Ngày 22 tháng 11 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 992/2023/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 10 năm 2023 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 310/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 11 năm 2023, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Trần Thị Ngọc T, sinh năm 1987 (xin vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An
Bị đơn: Ông Cổ Văn T1, sinh năm 1981 (xin vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp E, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ly hôn ngày 22 tháng 9 năm 2023 và những lời khai tiếp theo, nguyên đơn bà Trần Thị Ngọc T trình bày: Bà và ông Vổ Văn T2 chung sống với nhau vào năm 2005, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An vào ngày 01 tháng 11 năm 2006. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc đến năm 2010 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do cuộc sống vợ chồng không phù hợp, bất đồng quan điểm, không tìm được tiếng nói chung trong hôn nhân, bà và ông T2 thường xuyên cải nhau, dù đã cố gắng chịu đựng nhưng vẫn không thay đổi. Bà và ông T2 đã ly thân từ năm 2010 cho đến nay, từ khi ly thân đến nay bà và ông T2 cũng không thể hàn gắn, đoàn tụ. Nay, bà yêu cầu ly hôn với ông Cổ Văn T1.
Về con chung: Quá trình chung sống, anh chị có 01 con chung tên Cổ Ngọc Phương Q, sinh ngày 30/8/2006, con đang sống với bà. Khi ly hôn, bà xin tiếp tục nuôi dưỡng con chung Cổ Ngọc Phương Q, bà không yêu cầu ông T1 cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ông T1 có đơn đề nghị được vắng mặt tại các phiên tòa xét xử vụ án.
Bị đơn ông Cổ Văn T1 trình bày tại Bản tự khai: bà T và ông chung sống với nhau vào năm 2005, cuộc sống vợ chồng có cãi nhau nên ông và bà T đã ly thân từ năm 2010 đến nay. Nay Tuyền xin ly hôn, ông đồng ý. Về con chung: Quá trình chung sống, ông và bà T có có 01 con chung tên Cổ Ngọc Phương Q, sinh ngày 30/8/2006, con đang sống với bà T. Khi ly hôn, ông đồng ý để bà T tiếp tục nuôi con chung Cổ Ngọc Phương Q, ông không cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ông T1 có đơn đề nghị được vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án.
Sau khi thụ lý vụ án, bà Trần Thị Ngọc T có đơn đề nghị không tiến hành hòa giải, Tòa án đã tiến hành tống đạt thông báo thụ lý vụ án cho ông Cổ Văn T1, ông T1 có bản tự khai phản hồi ý kiến và có yêu cầu được vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án nên Tòa án tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc tiếp cận, giao nộp công khai chứng cứ và đưa vụ án ra xét xử.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên Tòa, căn cứ các kết quả xét hỏi tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng: bà Trần Thị Ngọc T khởi kiện yêu cầu được ly hôn với ông Cổ Văn T1, ông T1 hiện cư trú tại ấp E, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An nên Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa, nguyên đơn, bị đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, căn cứ vào khoản 1 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.
[2]. Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị Ngọc T chung sống với nhau có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ vào năm 2006 nên hôn nhân giữa ông T1 và bà T là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
[3]. Trong quá trình chung sống, bà T và ông T1 đều xác định vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn và đã sống ly thân. Từ khi ly thân đến nay, ông bà cũng không thể hàn gắn tình cảm vợ chồng. Nay thấy tình cảm vợ chồng không còn nên bà T yêu cầu ly hôn. Tại bản tự khai ông T1 cũng đồng ý ly hôn.
Xét thấy, bà T và ông T1 đều trình bày tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn và đồng ý ly hôn nhưng Tòa án không tiến hành hòa giải được do bà T có đơn đề nghị không tiến hành hòa giải. Do đó, yêu cầu ly hôn của bà T đối với ông T1 là có căn cứ phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
[4]. Về con chung và cấp dưỡng: Quá trình chung sống, bà T và ông T1 thống nhất có 01 con chung tên Cổ Ngọc Phương Q, sinh ngày 30/8/2006, con bà T đang trực tiếp nuôi dưỡng. Khi ly hôn, bà T và ông T1 có lời khai thống nhất để bà T tiếp tục nuôi dưỡng con chung Cổ Ngọc Phương Q, tại bản tự khai con chung Cổ Ngọc Phương Q cũng có nguyện vọng sống với bà T. Do đó, Hội đồng xét xử tiếp tục giao con chung cho bà T nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Bà T trình bày không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5]. Về tài sản chung: Bà T và ông T1 đều trình bày không có nên Hội đồng xét xử không xem xét
[6]. Về nợ chung: Bà T và ông T1 trình bày không có nên Hội đồng xét xử không xem xét
[7]. Về án phí: Bà T phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, 273, 483, Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào Điều 9, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Ngọc T đối với ông Cổ Văn T1 về việc “Ly hôn”.
Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị Ngọc T được ly hôn với ông Cổ Văn T1.
Về con chung và cấp dưỡng: Bà Trần Thị Ngọc T được quyền tiếp tục nuôi 01 con chung Cổ Ngọc Phương Q, sinh ngày 30/8/2006, ông Cổ Văn T1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung vì bà Trần Thị Ngọc T không yêu cầu.
Cả hai bên đều có quyền và nghĩa vụ đối với con chung. Bên không nuôi con được quyền tới lui, thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền ngăn cản. Trường hợp bên không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung thì bên trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con theo quy định pháp luật. Bên trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được quyền cản trở bên không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung.
Khi cần thiết, trên cơ sở lợi ích của con chung thì bên trực tiếp nuôi con, bên không trực tiếp nuôi con, cơ quan, tổ chức và cá nhân có thẩm quyền có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
Về tài sản chung: Bà Trần Thị Ngọc T và ông Cổ Văn T1 trình bày không có nên không xem xét.
Về nợ chung: Bà Trần Thị Ngọc T và ông Cổ Văn T1 trình bày không có nên không xem xét.
2. Về án phí: Bà Trần Thị Ngọc T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm sung Ngân sách Nhà nước nhưng được khấu trừ 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu số 0005782 ngày 02/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Hoà, tỉnh Long An sang án phí để thi hành.
Án xử sơ thẩm và tuyên án công khai, nguyên đơn, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Hải An |
Bản án số 274/2023/HNGĐ-ST ngày 22/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN về ly hôn
- Số bản án: 274/2023/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/11/2023
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị T yêu cầu ly hôn anh T
