TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 274/2024/HS-ST
Ngày 13-12-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Hoa
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Kim Liên
- Ông Huỳnh Văn Sơn
- Thư ký phiên tòa: Bà Nội Thị Hảo - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng H - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 12 năm 2024, Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 270/2024/TLST-HS ngày 03 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 298/2024/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 10 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 202/2024/HSST-QĐ ngày 15 tháng 11 năm 2024, đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Thị Mộng T, sinh năm 1993 tại Thành phố Hồ Chí Minh;
Giới tính: nữ; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 4 đường số F, phường E, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở: Nhà không số, ấp E (ấp C mới), xã Đ, huyện H, thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên chúa; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Anh T1 (chết) và bà Nguyễn Thị D; bị cáo có chồng là Huỳnh Tiến P và 01 con sinh năm 2014; Tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt từ ngày 31/01/2024 cho đến nay; hiện đang tạm giam tại nhà tạm giữ công an huyện H; bị cáo có mặt tại phiên tòa.
2. Huỳnh Tiến P, sinh năm 1992 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Giới tính: nam;
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: D N, phường F, quận B, thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở: Nhà không số, ấp E (ấp C mới), xã Đ, huyện H, thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 03/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên chúa; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Văn T2 và bà Phan Thị C; bị cáo có vợ là Nguyễn Thị Mộng T và chưa có con; Nhân thân: Ngày 28/9/2016 bị Tòa án nhân dân quận Gò Vấp ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 15 tháng; Tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt từ ngày 31/01/2024 cho đến nay; hiện đang tạm giam tại nhà tạm giữ công an huyện H; bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Những người tham gia tố tụng khác:
- Bà Phan Thị C, sinh năm 1972. (xin vắng mặt)
- Ông Trần Hữu L, sinh năm 1988. (vắng mặt)
Địa chỉ: D N, phường F, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Thường trú: Thôn H, xã G, huyện G, tỉnh Quảng Trị.
Địa chỉ: G V, phường L, thị xã T, tỉnh Bình Dương.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Thị Mộng T và Huỳnh Tiến P là vợ chồng. T và P thuê nhà không số tổ 9, ấp E, Đ, H để ở và bán ma túy.
Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 31/01/2024 Nguyễn Thị Mộng T đi giao ma túy cho con nghiện, khi đến số 100/94/8 ĐT6, ấp E, xã Đ, H thì bị Công an xã Đ phát hiện bắt quả tang trên tay trái của T có cầm 01 túi giấy màu vàng, trong túi có 01 gói nylon chứa tinh thể không màu (ký hiệu m), T khai nhận đây là ma túy đá, T thay chồng tên Huỳnh Tiến P đi giao cho con nghiện nhưng chưa kịp giao thì bị phát hiện bắt quả tang. Tổ công tác niêm phong vật chứng và đưa đối tượng về trụ sở làm việc.
Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của T tại nhà không số tổ 9, ấp E, Đ phát hiện trong nhà có Huỳnh Tiến P (SN: 1992, HK: D N, Phường F, quận B), thu giữ một số gói nylon không chứa gì, 01 kéo kim loại, 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá.
Kết luận giám định số 2145/KL-KTHS ngày 09/02/2024 của Phòng K Công an Thành phố H kết luận:
Tinh thể không màu (ký hiệu m) là ma túy ở thể rắn, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,4032g.
Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Thị Mộng T và Huỳnh Tiến P khai nhận số ma túy bị Công an bắt quả tang là do P đưa cho T đi bán cho người nghiện, T đã đi giao ma túy được 3 lần: Lần 1 và lần 2 vào khoảng giữa tháng 01/2024, mỗi lần giao 01 gói ma túy đá giá 200.000 đồng và T đưa tiền cho P, lần 3 thì bị phát hiện bắt quả tang. T biết rõ việc P mua ma túy về sử dụng và bán lại cho con nghiện nhưng vẫn giúp sức cho P trong việc bán ma túy. Nguồn ma túy P mua lại của đối tượng tên S có tên zalo là “Sư phụ” ở phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
Quá trình Cơ quan điều tra đang khám xét thì có đối tượng Trần Hữu L đến tìm Huỳnh Tiến P để mua ma túy nên Cơ quan Công an mời làm việc. Trần Hữu L khai nhận do quen biết nên 03 lần đến gặp P để mua ma túy về sử dụng. Lần 1 vào ngày 10/12/2023 P bán cho L 01 gói ma túy giá 300.000 đồng, lần 2 vào ngày 12/12/2023 P bán cho L 01 gói ma túy giá 300.000 đồng, lần 3 vào ngày 18/01/2024 P bán cho L 01 gói ma túy giá 400.000 đồng.
Vật chứng thu giữ:
- - 01 gói niêm phong số vụ: 720/24(2145)
- - 01 gói giấy màu vàng; 02 gói nylon không chứa gì; một số ống hút nhựa màu trắng, 01 kéo kim loại; 01 bộ dụng cụ gồm 01 bình nhựa, 01 ống hút, 01 đoạn ống thủy tinh có đầu tròn bên trong không chứa gì.
- - 01 ĐTDĐ Vivo, gắn sim số điện thoại 0922.089.xxx (T dùng vào việc liên lạc mua bán ma túy).
- - 01 ĐTDĐ Oppo, gắn sim số điện thoại 0965.785.xxx/0587558104 (P dùng vào việc liên lạc mua bán ma túy).
- - 01 xe máy hiệu Airblade màu nâu trắng có biển số 59S2-786.87 (SK:RLHJF6300FZ643678; SM:JF63E1177153). Qua xác minh tại Đội CSGT - Công an H1, chiếc xe này do bà Phan Thị C (sinh năm: 1972; Nơi thường trú: D N, P, B) đứng tên chủ sở hữu. Bà C là mẹ ruột của Huỳnh Tiến P mua chiếc xe này vào năm 2019 với giá 60.000.000 đồng tại cửa hàng X nằm trên đường D (thuộc quận G) sử dụng làm phương tiện đi lại đến giữa tháng 01/2024, do P và T không có xe đi lại nên đã hỏi mượn chiếc xe này của bà C để đi lại vài ngày rồi trả lại sau cho bà C. Sau đó, T đã sử dụng chiếc xe này làm phương tiện đi mua bán ma túy. Bà C hoàn toàn không biết việc P và T mượn chiếc xe này để thực hiện hành vi phạm tội. Lời khai của cả bà C, P và T hoàn toàn phù hợp với nhau.
Tại Bản cáo trạng số 263/CT-VKS.HM ngày 03 tháng 10 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Tp . đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn để xét xử các bị cáo Nguyễn Thị Mộng T và Huỳnh Tiến P về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị tuyên các bị cáo Nguyễn Thị Mộng T và Huỳnh Tiến P phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Mộng T từ 07 năm đến 08 năm tù. Phạt tiền bị cáo từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng để sung vào ngân sách nhà nước.
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Huỳnh Tiến P từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm 06 tháng tù. Phạt tiền bị cáo từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng để sung vào ngân sách nhà nước.
Tịch thu tiêu hủy: 01 gói niêm phong số vụ: 720/24(2145); 01 gói giấy màu vàng; 02 gói nylon không chứa gì; một số ống hút nhựa màu trắng, 01 kéo kim loại; 01 bộ dụng cụ gồm 01 bình nhựa, 01 ống hút, 01 đoạn ống thủy tinh có đầu tròn bên trong không chứa gì.
Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 ĐTDĐ Vivo, gắn sim số điện thoại 0922.089.xxx; 01 ĐTDĐ Oppo, gắn sim số điện thoại 0965.785.xxx/0587558104.
Trả lại cho bà Phan Thị C 01 xe máy hiệu Airblade màu nâu trắng có biển số 59S2-786.87 (SK:RLHJF6300FZ643678; SM:JF63E1177153).
Buộc bị cáo P nộp lại số tiền 1.400.000 đồng thu lợi bất chính để sung vào ngân sách nhà nước.
Các bị cáo Nguyễn Thị Mộng T và Huỳnh Tiến P khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu và xin được hưởng mức án nhẹ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện H, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án là hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Thị Mộng T và Huỳnh Tiến P khai nhận: Bản thân vì mục đích vụ lợi cá nhân, vào ngày 31/01/2024, Nguyễn Thị Mộng T đang cất giấu trong người 0,4032g ma túy, loại Methamphetamine để bán cho người nghiện thì bị phát hiện bắt quả tang. Ngoài lần bị bắt quả tang thì T đã bán ma túy dùm cho P được 02 lần vào khoảng giữa tháng 01/2024. Số ma túy các lần Tuyền bán là của Huỳnh Tiến P mua về để sử dụng và bán cho con nghiện. Riêng bị cáo P đã trực tiếp bán ma túy cho người nghiện Trần Hữu L được 03 lần.
Đối với Trần Hữu L, Cơ quan điều tra giao cho Công an xã Đ xử lý theo thẩm quyền.
Đối với đối tượng tên S (không rõ lai lịch) bán ma túy cho P, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau.
Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các vật chứng cùng các tài liệu thể hiện tại hồ sơ vụ án, phù hợp với Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn đã truy tố. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở pháp lý để kết luận các bị cáo Nguyễn Thị Mộng T và Huỳnh Tiến P phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ Luật Hình Sự của N.
[3] Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, các bị cáo thừa biết ma túy là chất gây nghiện mang tính độc hại cao, đã bị nhà nước cấm mua bán, tàng trữ dưới bất kỳ hình thức nào. Bản thân các bị cáo bất chấp mọi hậu quả lao vào con đường phạm tội, thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy nhằm thỏa mãn nhu cầu cho bản thân. Do đó, cần có mức án nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà các bị cáo đã gây ra, phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm cải tạo, giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử cũng xem xét về nhân thân, tính chất mức độ và hậu quả của hành vi, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo khi lượng hình.
[4] Về nhân thân bị cáo Nguyễn Thị Mộng T: chưa có tiền án, tiền sự.
[5] Về nhân thân bị cáo Huỳnh Tiến P:
Ngày 28/9/2016 bị Tòa án nhân dân quận Gò Vấp ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 15 tháng.
Tiền án, tiền sự; không.
[5] Tình tiết giảm nhẹ: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, gia đình các bị cáo có công với cách mạng nên cho các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự là phù hợp.
[6] Tình tiết tăng nặng: không.
[7] Hình phạt bổ sung: Xét hoàn cảnh các bị cáo không có nghề nghiệp nên không áp dụng hình phạt tiền đối với các bị cáo.
[8] Về xử lý vật chứng:
- - Đối với 01 gói niêm phong số vụ: 720/24(2145) là ma túy là vật cấm lưu hành, Hội đồng xét xử xét thấy cần tịch thu tiêu hủy.
- - Đối với 01 gói giấy màu vàng; 02 gói nylon không chứa gì; một số ống hút nhựa màu trắng, 01 kéo kim loại; 01 bộ dụng cụ gồm 01 bình nhựa, 01 ống hút, 01 đoạn ống thủy tinh có đầu tròn bên trong không chứa gì dùng vào việc phạm tội, Hội đồng xét xử xét thấy cần tịch thu tiêu hủy.
- - Đối với 01 ĐTDĐ Vivo, gắn sim số điện thoại 0922.089.xxx và 01 ĐTDĐ Oppo, gắn sim số điện thoại 0965.785.xxx/0587558104, các bị cáo dùng vào việc liên lạc mua bán ma túy, Hội đồng xét xử xét thấy cần tịch thu sung vào Ngân sách nhà nước.
- - Đối với 01 xe máy hiệu Airblade màu nâu trắng có biển số 59S2-786.87 (SK:RLHJF6300FZ643678; SM:JF63E1177153) do bà Phan Thị C đứng tên chủ sở hữu, bị cáo P mượn xe này đi mua ma túy bà C hoàn toàn không biết, Hội đồng xét xử xét thấy cần trả lại xe này cho bà C.
- - Đối với số tiền 1.400.000 đồng bị cáo P thu lợi bất chính từ việc phạm tội, Hội đồng xét xử xét thấy cần buộc bị cáo nộp lại số tiền này để sung vào ngân sách nhà nước.
[9] Án phí hình sự sơ thẩm: các bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự;
- Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự;
- Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Mộng T 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Thời hạn tù được tính từ ngày 31/01/2024.
Xử phạt bị cáo Huỳnh Tiến P 08 (tám) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Thời hạn tù được tính từ ngày 31/01/2024.
Tịch thu tiêu hủy: 01 gói niêm phong số vụ: 720/24(2145) là ma túy; 01 gói giấy màu vàng; 02 gói nylon không chứa gì; một số ống hút nhựa màu trắng, 01 kéo kim loại; 01 bộ dụng cụ gồm 01 bình nhựa, 01 ống hút, 01 đoạn ống thủy tinh có đầu tròn bên trong không chứa gì.
Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 ĐTDĐ Vivo, gắn sim số điện thoại 0922.089.xxx và 01 ĐTDĐ Oppo, gắn sim số điện thoại 0965.785.xxx/0587558104.
Trả lại cho bà Phan Thị C 01 xe máy hiệu hiệu Airblade màu nâu trắng có biển số 59S2-786.87 (SK:RLHJF6300FZ643678; SM:JF63E1177153).
Buộc bị cáo Huỳnh Tiến P nộp lại số tiền 1.400.000 đồng thu lợi bất chính để sung vào ngân sách nhà nước.
(Vật chứng của vụ án do Chi cục thi hành án dân sự huyện Hóc Môn đang quản lý theo Quyết định chuyển vật chứng số 219/QĐ-VKS-HS ngày 20/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn).
Các bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc niêm yết.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hồng Hoa |
Bản án số 274/2024/HS-ST ngày 13/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự: mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 274/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: nguyễn thị mộng tuyền
