Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ TÂN UYÊN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 274/2024/HS-ST

Ngày: 12/12/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Thành Hiệp.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Tống Văn Tâm, Giáo viên hưu trí;
  2. Ông Nguyễn Văn Thảo, Giáo viên hưu trí;

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Ngọc Yến - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Trương Văn Thế - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 278/2024/HSST ngày 05 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 293/2024/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 11 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 84/2024/HSST-QĐ ngày 29 tháng 11 năm 2024, đối với bị cáo:

Ngô Phước K

Ngô Phước K, sinh ngày 10/12/2001; nơi sinh: Hậu Giang; hộ khẩu thường trú: Ấp E, xã V, huyện V, tỉnh Hậu Giang; nơi ở hiện tại: Ấp B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An; nghề nghiệp: công nhân; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô Văn Ư, sinh năm 1974 và bà Nguyễn Thị Kiều O, sinh năm 1975; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: không.

Ngày 22/8/2018, thực hiện hành vi “Cố ý gây thương tích”. Ngày 28/10/2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T khởi tố vụ án hình sự; ngày 07/3/2024 khởi tố bị can và áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay, có mặt.

Người đại diện hợp pháp của bị cáo K: Ông Ngô Văn Ư, sinh năm 1974; thường trú: Ấp E, xã V, huyện V, tỉnh Hậu Giang (là Cha bị cáo); có mặt.

Bị hại: Ông Huỳnh Trung P, sinh ngày 04/8/2001; thường trú: Ấp K, xã K, huyện C, tỉnh An Giang; tạm trú: Tổ C, khu phố K, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương; có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

Người đại diện hợp pháp của bị hại P: Bà Lê Thị T, sinh năm 1971; thường trú: Ấp K, xã K, huyện C, tỉnh An Giang; tạm trú: Tổ C, khu phố K, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương (Mẹ của bị hại); vắng mặt.

Người làm chứng: Bà Nguyễn Thị P1; bà Nguyễn Thị Huyền T1; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Ngô Phước K với ông Huỳnh Trung P và bà Nguyễn Thị Huyền T1 là công nhân làm chung tại Công ty TNHH M tại khu phố A, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Bà T1 là bạn gái của bị cáo Ngô Phước K.

Khoảng 17 giờ ngày 21/8/2018, bà T1 nói với K việc bà T1 bị ông P chọc ghẹo đòi làm quen và còn thách thức K nên K rất tức giận. Đến ngày 22/8/2018, K tìm gặp các đối tượng Ken, H, N, D (là những người Khánh quen tại tiệm game, không rõ lý lịch, địa chỉ) kể lại sự việc và rủ K1, H, N, D đến trước Công ty TNHH M để nói chuyện và đánh dằn mặt P thì tất cả đồng ý. Đến khoảng 20 giờ 40 phút cùng ngày, khi K cùng với K1, H, N, D đứng đợi P trước cổng công ty TNHH M thì nhìn thấy ông P tan ca đi ra đến cổng công ty. K cùng với K1, H, N, D đi đến chặn ông P lại, lúc này trên tay của K cầm nón bảo hiểm màu đỏ, K1 cầm sợi dây xích bằng kim loại, H cầm cây ba khúc bằng kim loại, D cầm nón bảo hiểm, còn N thì không cầm hung khí gì. K dùng tay phải cầm nón bảo hiểm đánh một cái trúng vào vùng đầu của ông P. Ken, H, N và D xông vào đánh ông P, ông P ngồi xuống dùng hai tay che đầu lại thì K tiếp tục dùng nón bảo hiểm đánh liên tiếp khoảng 06-07 cái vào vùng vai, K1 dùng dây xích, H cầm ba khúc, D cầm nón bảo hiểm, N dùng tay không đánh nhiều cái vào vùng vai và lưng của ông P gây thương tích. Sau đó, K dừng lại và kêu Ken, H, N, D không đánh nữa rồi bỏ trốn khỏi hiện trường, ông P được người dân đưa đến Bệnh viện V tại phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương để điều trị thương tích.

Sau khi vụ việc xảy ra, ngày 24/8/2018 bà Lê Thị T (là mẹ ông P) đến Công an phường T trình báo sự việc và gửi đơn yêu cầu giám định thương tích và khởi tố vụ án hình sự đối với hành vi của bị cáo Ngô Phước K cùng đồng phạm gây thương tích cho ông Huỳnh Trung P.

Công an phường T, thành phố T tiến hành xác minh, lập hồ sơ ban đầu, mời Ngô Phước K đến trụ sở để làm việc. Qua làm việc, Ngô Phước K đã khai nhận hành vi dùng nón bảo hiểm đánh gây thương tích cho ông Huỳnh Trung P.

Công an phường T chuyển toàn bộ hồ sơ cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T thụ lý, giải quyết theo thẩm quyền.

Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 375/2018/GĐPY ngày 12/10/2018 của Trung tâm pháp y thuộc Sở y tế tỉnh B, kết luận tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên của Huỳnh Trung P là 11 % (Mười một phần trăm).

Ngày 08/5/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên ban hành Cáo trạng số 149/CT-VKSTU truy tố bị cáo Ngô Phước K về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 và Chương XII Bộ luật Hình sự.

Ngày 29/5/2024, Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên ban hành Quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung số 16/2024/HSST-QĐ để điều tra, làm rõ: Năm sinh của bị can Ngô Phước K, sinh ngày 10/12/2001 (được thể hiện trong lý lịch, các tài liệu khác có trong hồ sơ) hay sinh ngày 10/12/1999 (như giấy chứng minh nhân dân, bút lục số 20 và các tài liệu khác có trong hồ sơ) để xem xét quyết định truy tố bị can tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 hay điểm đ khoản 2 Điều 134 và Chương XII của Bộ luật hình sự. Đồng thời xem xét bị can Ngô Phước K có hành vi phạm tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức hoặc sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” được quy định tại Điều 341 của Bộ luật Hình sự để khởi tố, xử lý theo quy định.

Quá trình điều tra bổ sung, thu thập hồ sơ xin việc làm của bị cáo Ngô Phước K tại Công ty TNHH M gồm bản phôtô: 01 sổ hộ khẩu, 01 đơn xin việc, 01 sơ yếu lý lịch, 01 đơn xin xác nhận hạnh kiểm, 01 giấy chứng minh nhân dân đều xác định bị can Ngô Phước K sinh năm 1999. Qua làm việc, Ngô Phước K khai nhận: Do Khánh sinh vào ngày 10/12/2001 nên vào năm 2018, K chưa đủ tuổi để đi xin việc làm nên K nhờ một người bạn tên T2 (không rõ lý lịch, địa chỉ) làm một bộ hồ sơ xin việc làm thì T2 đồng ý. Sau đó, T2 kêu K đưa giấy chứng minh nhân dân của K và sổ hộ khẩu gia đình cùng với số tiền là 250.000 đồng cho T2, khoảng 02 ngày sau thì T2 đưa hồ sơ xin việc làm cho K để K đi nộp Công ty M để xin việc làm. Ngày 05/7/2024, Cơ quan Cảnh sát tiến hành xác minh, thu thập hồ sơ xin việc làm của Ngô Phước K tại Công ty TNHH M, kết quả xác định Ngô Phước K có làm công nhân tại Công ty TNHH M vào thời điểm năm 2018 nhưng sau đó đã tự ý nghỉ việc tại Công ty vào cùng năm, hiện tại hồ sơ công nhân của Ngô Phước K công ty không còn lưu giữ nên không thể cung cấp được cho Cơ quan Cảnh sát điều tra.

Công văn số 332/PC09 ngày 30/9/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh B trả lời: Các tài liệu giám định là bản phôtô gồm: 01 sổ hộ khẩu, 01 đơn xin việc, 01 sơ yếu lý lịch, 01 đơn xin xác nhận hạnh kiểm, 01 giấy chứng minh nhân dân. Căn cứ Thông báo số 624/C54-P5 ngày 30/5/2016 của V1 Bộ C về việc không thực hiện giám định tài liệu là các bản sao (photocopy, fax, ảnh...).

Do hồ sơ xin việc của Ngô Phước K là bản photocoppy, Cơ quan Cảnh sát điều tra không thu được bản chính hồ sơ xin việc làm để trưng cầu giám định nên không đủ căn cứ để khởi tố Ngô Phước K về tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại Điều 341 của Bộ luật Hình sự.

Các tài liệu thu thập trong quá trình điều tra bổ sung đã xác định chính xác ngày tháng năm sinh của bị cáo Ngô Phước K là ngày 10/12/2001 (BL 148, 149, 158, 169).

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Ngô Phước K đã bồi thường cho bị hại Huỳnh Trung P số tiền 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng). Ông P không có yêu cầu gì khác và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đối với các đối tượng tên K1, H, N và D có hành vi cùng với bị cáo Ngô Phước K đánh ông Huỳnh Trung P gây thương tích 11%, quá trình điều tra đến nay chưa xác định được lý lịch, địa chỉ. Cơ quan cảnh sát điều tra tiếp tục điều tra để xử lý sau.

Cáo trạng số 274/CT-VKSTU ngày 31/10/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Ngô Phước K về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy tại điểm đ khoản 2 Điều 134 và chương XII Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 91, Điều 101 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Ngô Phước K từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường cho bị hại số tiền 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng), bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và không có yêu cầu gì khác nên đề nghị Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã truy tố.

Bị cáo không trình bày lời bào chữa.

Người đại diện hợp pháp của bị cáo không trình bày lời tranh luận.

Nói lời sau cùng: Bị cáo đã nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật hình sự, ăn năn hối cải và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. [1] Về thủ tục tố tụng:

    Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội trên địa bàn thành phố T, tỉnh Bình Dương. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với bị cáo là đúng thẩm quyền.

    Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo, bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại và những người tham gia tố tụng khác không khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, Hội đồng xét xử xác định hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố là đúng thẩm quyền và đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

  2. [2] Về tội danh và khung hình phạt: Lời khai của bị cáo Ngô Phước K tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, thống nhất với nhau về thời gian, địa điểm, thành phần tham gia, cách thức thực hiện hành vi phạm tội, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có căn cứ kết luận: Ngày 22/8/2018, tại khu phố A, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương, bị cáo Ngô Phước K và các đối tượng tên K1, H, N, D đã có hành vi dùng hung khí nguy hiểm (nón bảo hiểm, gậy ba khúc, dây xích) đánh vào người của ông Huỳnh Trung P gây thương tích với tỷ lệ thương tật là 11% (Mười một phần trăm). Bị cáo là người trực tiếp gây thương tích cho bị hại và cũng là người rủ rê các đối tượng tên K1, H, N, D cùng đi gây thương tích cho bị hại P, do đó hành vi của bị cáo Ngô Phước K đã cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên truy tố đối với bị cáo Ngô Phước K về tội “Cố ý gây thương tích” là có căn cứ, đúng người và đúng pháp luật.

  3. [3] Hành vi của bị cáo và đồng phạm là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến sức khỏe của người khác một cách trái pháp luật, gây mất trật tự xã hội tại địa phương. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật hình sự và sẽ bị trừng trị; bị cáo phải biết khi sử dụng mũ bảo hiểm là vật cứng đánh vào đầu, vay của bị hại thì khả năng gây tổn hại sức khỏe cho bị hại là rất cao. Hành vi này của bị cáo và đồng phạm thể hiện tính xem thường pháp luật. Do đó, cần có hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi, vai trò, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo gây ra để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

  4. [4] Đối với việc bị cáo K nhờ một người bạn tên T2 (không rõ lý lịch, địa chỉ) làm một bộ hồ sơ xin việc. Ngày 05/7/2024, Cơ quan Cảnh sát tiến hành xác minh, thu thập hồ sơ xin việc làm của Ngô Phước K tại Công ty TNHH M xác định Ngô Phước K có làm công nhân tại C1 vào thời điểm năm 2018 nhưng sau đó đã tự ý nghỉ việc tại Công ty vào cùng năm. Đối với hồ sơ xin việc của Ngô Phước K, Cơ quan Cảnh sát điều tra không thu được bản chính hồ sơ xin việc làm để trưng cầu giám định nên không đủ căn cứ để khởi tố Ngô Phước K về tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại Điều 341 của Bộ luật Hình sự.

    Các tài liệu thu thập trong quá trình điều tra bổ sung đã xác định ngày tháng năm sinh của bị cáo Ngô Phước K là ngày 10/12/2001 (BL 148, 149, 158, 169); do đó, tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội thì bị cáo K được 16 tuổi 08 tháng 12 ngày.

  5. [5] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã bồi thường khắc phục hậu quả và bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

  6. [6] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

  7. [7] Hình phạt mà Kiểm sát viên đề nghị xử phạt đối với bị cáo Ngô Phước K tại phiên tòa là có căn cứ pháp luật.

    Xét, bị cáo Ngô Phước K có nơi cư trú rõ ràng, ổn định; có nhân thân tốt; chưa có tiền án, tiền sự; được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; bản thân bị cáo có khả năng tự cải tạo và không gây ảnh hưởng xấu đến công tác đấu tranh phòng ngừa tội phạm. Do đó, xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà căn cứ Điều 65 của Bộ luật hình sự; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018, Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo cho bị cáo được hưởng án treo nhằm thể hiện chính sách khoan hồng của Nhà nước và giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian nhất định cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, không gây ảnh hưởng xấu cho xã hội mà vẫn đảm bảo công tác đấu tranh phòng ngừa tội phạm.

  8. [8] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 10.000.000 đồng. Sau khi nhận tiền bồi thường, bị hại không có yêu cầu gì khác và làm đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

  9. [9] Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Không có.

  10. [10] Đối với các đối tượng tên Ken, H, N, D có hành vi cùng với bị cáo Ngô Phước K đánh ông Huỳnh Trung P gây thương tích 11%; quá trình điều tra đến nay chưa xác định được lý lịch, địa chỉ. Cơ quan cảnh sát điều tra tiếp tục điều tra làm rõ để xử lý là phù hợp.

  11. [11] Về án phí sơ thẩm: Bị cáo phạm tội, bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Ngô Phước K phạm tội “Cố ý gây thương tích".
  2. Về hình phạt: Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; Điều 91, Điều 101; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao;

    Xử phạt bị cáo Ngô Phước K 02 (Hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Cố ý gây thương tích”; thời gian thử thách là 04 (Bốn) năm tính từ ngày tuyên án (12/12/2024).

    Giao bị cáo Ngô Phước K cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

    Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

  3. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  4. Về xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp: Không có.
  5. Về án phí sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Ngô Phước K phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo; người đại diện hợp pháp của bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND tỉnh Bình Dương;
  • - PV06, Công an tỉnh Bình Dương;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND thành phố Tân Uyên;
  • - Công an thành phố Tân Uyên;
  • - Chi cục THADS thành phố Tân Uyên;
  • - UBND xã Đức Hòa Hạ, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: VT, HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Võ Thành Hiệp

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 274/2024/HS-ST ngày 12/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về hình sự: cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 274/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự: Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngô Phước K phạm tội cố ý gây thương tích
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger