|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG TỈNH QUẢNG NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 274/2024/HS-ST
Ngày 11 - 11 - 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Lê Thị Thu
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Đăng Cường
Bà Trần Thị Kim Nhung
- Thư ký phiên toà: Ông Vũ Đức Thắng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Hạ Thu - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 245/2024/TLST - HS ngày 04 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 267/2024/QĐXXST- HS ngày 28 tháng 10 năm 2024 đối với các bị cáo:
- Ngô Văn Đ; sinh ngày 01 tháng 01 năm 1975; tại tỉnh Quảng Ninh; nơi thường trú: khu C, phường M, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh; nơi ở hiện tại: tổ C, khu Q, phường Đ, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô Bá H và bà Phạm Thị T; có vợ là Hoàng Thị N và 03 con; tiền án, tiền sự: không có; nhân thân: ngày 27/4/2021, Toà án nhân dân thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 06 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 27/4/2022 thi hành xong toàn bộ bản án.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/6/2024, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam công an tỉnh Q, có mặt.
- Phạm Văn Đ1; sinh ngày 12 tháng 4 năm 1994 tại tỉnh Quảng Ninh; nơi cư trú: tổ A, khu F, phường Đ, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: công nhân; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn Q và bà Nguyễn Thị D; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không;
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/6/2024, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam công an tỉnh Q, có mặt.
- Nguyễn Mạnh H1; sinh ngày 04 tháng 8 năm 1995 tại tỉnh Quảng Ninh; nơi cư trú: tổ A, khu Y, phường Đ, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn C và bà Nguyễn Thị T1; có vợ là Nguyễn Thị N1, chưa có con; tiền án, tiền sự: không;
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/6/2024, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam công an tỉnh Q, có mặt.
- Người chứng kiến: Ông Trần Văn X, ông Lê Xuân T2 – vắng mặt không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngô Văn Đ, Phạm Văn Đ1 có quen biết xã hội, Đ1 quen biết Nguyễn Mạnh H1 từ nhỏ. Trong ngày 17/6/2024, Đ1 hai lần mua ma túy của Đ để sử dụng và bán cho H1, cụ thể như sau:
Lần thứ nhất: khoảng 9 giờ 55 phút, Đ1 gọi điện thoại từ số thuê bao 0385229635 cho Đ hỏi mua 01 túi ma tuý đá với giá 500.000 đồng. Đ đồng ý và bảo chuyển tiền vào tài khoản ngân hàng M mang tên PHAM VAN DIEP và hẹn đến nhà Đ để lấy ma túy. Sau đó, Đ1 đến nhà Đ lấy ma túy đá tại vị trí mép cửa sổ gian bếp theo chỉ dẫn của Đ và mang về sử dụng hết.
Lần thứ hai: khoảng 10 giờ 50 phút, Nguyễn Mạnh H1 đến nhà hỏi Đ1 nhờ mua ma túy để sử dụng, Đ1 đồng ý và bảo H1 chuyển khoản số tiền 500.000 đồng từ tài khoản 0768419116 của Ngân hàng thương mại cổ phần Q1 mang tên PHAM MAI ANH vào tài khoản ngân hàng thương mại cổ phần C1 (V) mang tên PHAM VAN DAT. Đến khoảng 11 giờ 00 phút cùng ngày, Đ1 gọi điện thoại cho Đ hỏi mua 600.000 đồng ma tuý đá và dặn Đ chia thành hai túi lượng ma túy bằng nhau (mỗi túi 300.000 đồng), rồi chuyển khoản tiền mua ma túy từ tài khoản ngân hàng của Đ1 đến tài khoản ngân hàng của Đ. Sau đó, Đ1 đến nhà Đ lấy 02 túi ma tuý đá, mang về nhà đưa cho H1 01 túi, còn một túi Đ1 sử dụng hết. Sau khi mua được ma túy, H1 đi tìm nơi sử dụng, đến khoảng 11 giờ 20 phút cùng ngày, H1 đi đến đoạn đường thuộc tổ B, khu C, phường Đ, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh thì bị tổ công tác Công an phường Đ phát hiện, bắt quả tang, thu giữ tại tay trái H1 đang cầm 01 túi ma túy đá, thu tại tay phải H1 đang cầm 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu đen, gắn sim số 0369427546.
Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H ra Lệnh khám xét khẩn cấp nơi ở của Đ1 tại tổ A, khu F, phường Đ, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, thu giữ tại nền nhà phòng khách nơi ở của Đ1 01 túi nilon màu xanh bên trong có 02 mảnh giấy bạc, 02 ống thủy tinh trên ống một đầu được gắn ống hút nhựa màu trắng, thu giữ 01 điện thoại di động màu xanh nhãn hiệu OPPO, đã qua sử dụng gắn sim số 0385.229.63. Khám xét nơi ở của Đ tại nhà ở tổ C, khu Q, phường Đ, thành phố H thu giữ: 01 hộp nhựa màu đỏ bên trong có 10 vỏ túi nilon có khóa kẹp một đầu kích thước (2x2,5) cm; tại gác xép, thu tại mặt bàn (dạng bàn học) 01 bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long bên trong có 01 túi nilon có khóa kẹp một đầu, viền màu cam kích thước khoảng (5x6) cm bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng; 01 (một) gói giấy màu trắng bên trong có 01 túi nilon có khóa kẹp một đầu, viền màu cam kích thước khoảng (5x6) cm bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng, 02 mảnh tờ giấy bạc; thu trên giá tầng hai của bàn học 01 gói giấy bạc bên trong có 01 túi nilon có khóa kẹp một đầu, viền màu xanh kích thước (2x2,5) cm trong túi có chứa chất tinh thể màu trắng; thu trong ngăn kéo bàn học 01 đoạn ống hút nhựa dài khoảng 19 cm một đầu vát nhọn; 01 gói giấy vệ sinh bên trong có 01 đoạn ống nhựa màu trắng, 01 đoạn ống thủy tinh một đầu có bầu tròn; 01 đoạn ống kim loại hình trụ tròn dài khoảng 7,3cm và số tiền 3.000.000 đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu đen, đã qua sử dụng gắn sim số 0394792218, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu trắng, đã qua sử dụng gắn sim số 0379960127.
Bản kết luận giám định số: 931/KL-KTHS ngày 24 tháng 6 năm 2024 của Phòng K, Công an tỉnh Q kết luận: Chất tinh thể màu trắng thu giữ tại tay trái Nguyễn Mạnh H1 gửi giám định là ma túy, L: Methamphetamine, khối lượng là 0,241 (không phẩy hai bốn một) gam; Chất tinh thể màu trắng thu giữ khi khám xét khẩn cấp chỗ ở đồ vật của Ngô Văn Đ gửi giám định là ma túy, L: Methamphetamine, có khối lượng là 2,665 gam.
Quá trình điều tra, Ngô Văn Đ, Phạm Văn Đ1, Nguyễn Mạnh H1 khai phù hợp với nhau và phù hợp nội dung trên. Ngoài ra, Ngô Văn Đ khai là người sử dụng ma túy đá từ cuối năm 2023, do cần tiền tiêu và để có tiền sử dụng ma túy nên Đ đã nảy sinh ý định mua ma túy đá về bán kiếm lời, nguồn gốc ma túy bán cho Đ1 và bị thu giữ là do Đ mua một người không quen biết tên H2 ở khu vực gần bệnh viện S thuộc phường Đ, thành phố H rồi về chia nhỏ, cất giấu mục đích để bán với giá từ 300.000 đồng đến 500.000 đồng/01 túi. Đ khai số tiền 3.000.000 đồng cơ quan Công an thu giữ của bị cáo trong đó có 1.100.000 đồng là tiền Đ bán ma tuý cho Đ1 mà có. Phạm Văn Đ1 khai mua hộ ma tuý cho H1 là lần đầu tiên và cũng không mua hộ hay bán ma tuý cho bất kỳ ai khác.
Bản Cáo trạng số: 4636/CT-VKSHL ngày 30/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long đã truy tố: bị cáo Ngô Văn Đ về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự; bị cáo Phạm Văn Đ1 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự; Nguyễn Mạnh H1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Những người chứng kiến ông Trần Văn X, ông Lê Xuân T2 vắng mặt tại phiên tòa nhưng có lời khai trong hồ sơ thể hiện: khoảng 11 giờ 20 phút, ngày 17/06/2024, tại đoạn đường thuộc tổ B, khu C, phường Đ, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, các ông được trực tiếp chứng kiến cơ quan Công an kiểm tra, thu giữ tại tay trái của Nguyễn Mạnh H1 01 túi nilon, H1 khai là ma túy đá. Đồng thời, được chứng kiến việc cơ quan công an lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ.
* Tại phiên tòa:
Đại diện viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo như nội dung bản cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử:
- + Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Ngô Văn Đ từ 07 năm 06 tháng tù đến 08 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 17/6/2024.
- + Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Phạm Văn Đ1 từ 02 năm tù đến 02 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 17/6/2024.
- + Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Mạnh H1 từ 01 năm tù đến 01 năm 03 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 17/6/2024.
Không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với các bị cáo;
+ Về xử lý vật chứng: áp dụng điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, b, c khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự:
Tịch thu tiêu huỷ: 2,69 gam Methamphetamine hoàn lại sau giám định; 01(một) túi nilon màu xanh bên trong có 02 (hai) mảnh giấy bạc; 04 mảnh giấy bạc đã qua sử dụng; 02 ống thuỷ tinh một đầu được gắn với ống hút nhựa màu trắng đã qua sử dụng; 01(một) hộp nhựa màu đỏ bên trong có 10 (mười) vỏ túi nilon có khóa kẹp một đầu kích thước (2x2,5)cm; 01(một) đoạn ống hút nhựa dài khoảng 19cm một đầu vát nhọn; 01(một) gói giấy vệ sinh bên trong có 01(một) đoạn ống nhựa màu trắng; 01 (một) đoạn ống thủy tinh một đầu có bầu tròn; 01 (một) đoạn ống kim loại hình trụ tròn dài khoảng 7,3cm
Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu đen gắn sim thu giữ của Nguyễn Mạnh H1; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu xanh gắn sim thu của Phạm Văn Đ1; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu đen gắn sim và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu trắng thu của Ngô Văn Đ
Tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền 1.100.000 đồng trong số tiền 3.000.000 đồng thu của Ngô Văn Đ là tiền do phạm tội mà có; trả lại bị cáo số tiền còn lại 1.900.000 đồng là tiền riêng của bị cáo.
Các bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, công nhận quyết định truy tố của Viện kiểm sát là đúng người, đúng tội; các bị cáo không có quan điểm tranh luận với luận tội của đại diện Viện kiểm sát.
Lời nói sau cùng của ba bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ một phần hình phạt để các bị cáo có cơ hội sớm hoà nhập cộng đồng, trở thành người công dân có ích cho xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.
- Về hành vi phạm tội của các bị cáo: quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Ngô Văn Đ, Phạm Văn Đ1, Nguyễn Mạnh H1 thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Cả ba bị cáo đều khai bản thân là người sử dụng ma túy đá. Đối với Ngô Văn Đ do không có công việc ổn định, cần tiền chi tiêu và sử dụng ma tuý nên đã nảy sinh ý định mua ma tuý đá về sử dụng và bán lại kiếm lời; Phạm Văn Đ1 sau khi mua tuý của Đ về sử dụng cho bản thân, do quen biết với Nguyễn Mạnh H1 được H1 nhờ mua hộ ma tuý, Đ1 đã nảy sinh ý định kiếm lợi số tiền 200.000 đồng trong số tiền 500.000 đồng H1 nhờ Đ1 mua hộ ma tuý. Lời khai của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập ngày 17/6/2024, Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ, Kết luận giám định, các Biên bản nhận dạng, phù hợp với vật chứng thu giữ và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra và công bố công khai tại phiên tòa, do vậy Hội đồng xét xử đã có đủ căn cứ để kết luận:
Trong khoảng thời gian từ 09 giờ 55 phút đến 11 giờ ngày 17/6/2024, tại nơi ở của Ngô Văn Đ thuộc tổ C, khu Q, phường Đ, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, Đ đã có hành vi bán trái phép hai lần ma túy cho Phạm Văn Đ1 với tổng số tiền là 1.100.000 đồng. Ngoài ra, Ngô Văn Đ có hành vi tàng trữ 2,665 (hai phẩy sáu sáu năm) gam ma túy Methamphetamine, mục đích để bán. Khoảng 11 giờ 10 phút ngày 17/9/2024, tại nơi ở của Phạm Văn Đ1 thuộc tổ A, khu F, phường Đ, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, Đ1 có hành vi bán trái phép 0,241g (không phẩy hai bốn một gam) ma túy loại Methamphetamine cho Nguyễn Mạnh H1 với số tiền 500.000 đồng. Đến khoảng 11 giờ 20 phút ngày 17/6/2024, tại khu vực đoạn đường thuộc tổ B, khu C, phường Đ, thành phố H, Công an thành phố H phát hiện bắt quả tang Nguyễn Mạnh H1 có hành vi tàng trữ trái phép 0,241 (không phẩy hai bốn một) gam ma túy loại Methamphetamine mục đích để sử dụng.
Hành vi của bị cáo Ngô Văn Đ đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự; hành vi của bị cáo Phạm Văn Đ1 đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” được quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự; hành vi của các bị cáo Nguyễn Mạnh H1 đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự như Đại diện Viện kiểm sát kết luận tại phiên tòa là có căn cứ.
- Về tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội thì thấy: hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây khó khăn cho việc kiểm soát chất ma túy, tiếp tay cho những kẻ buôn bán ma tuý, làm ảnh hưởng đến trật tự công cộng, sức khỏe con người, cũng như ảnh hưởng xấu đến nhiều mặt của đời sống xã hội. Các bị cáo đều nhận thức được tác hại của ma túy đối với xã hội và sức khỏe của con người nhưng đã bất chấp các qui định của pháp luật, mua ma túy về nhằm để bán lại kiếm lời và sử dụng ma túy cho bản thân mình, nên cần phải xử lý nghiêm khắc đối với các bị cáo mới có tác dụng răn đe phòng chống tội phạm nói chung.
- Xét vai trò, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Vụ án không có có tính chất đồng phạm, các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội độc lập. Bị cáo Đ bán ma tuý cho Đ1 không biết Đ1 đi bán lại ma tuý cho người khác, cũng không bàn bạc, phân công hay hứa hẹn cho Đ1 lợi ích vật chất hay tinh thần gì; Đ1 mua ma tuý của Đ sử dụng và bán lại cho H1 để hưởng lợi và cũng không nói cho Đ biết; Bị cáo Nguyễn Mạnh H1 mua ma tuý của Đ1 về để sử dụng cho bản thân nên mỗi bị cáo phải chịu hình phạt tương xứng với mức độ hành vi phạm tội của mình.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Về nhân thân của các bị cáo: bị cáo Ngô Văn Đ đã bị Toà án nhân dân thị xã Quảng Yên kết án về tội “Trộm cắp tài sản” nên có nhân thân xấu.
- Về hình phạt bổ sung: theo quy định tại khoản 5 Điều 251 và khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự, các bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Xét thấy, bị cáo Ngô Văn Đ, Nguyễn Mạnh H1 là lao động tự do, không có thu nhập ổn định; bị cáo Phạm Văn Đ1 tuy trước khi bị bắt là công nhân Công ty TNHH C2 nhưng hiện bị tạm giam. Đồng thời không xác định được các bị cáo có tài sản riêng, vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với các bị cáo.
- Về xử lý vật chứng, tài sản của vụ án:
2,69 gam Methamphetamine hoàn lại sau giám định là chất cấm lưu hành; 01(một) túi nilon màu xanh bên trong có 02 (hai) mảnh giấy bạc, 04 mảnh giấy bạc đã qua sử dụng, 02 ống thuỷ tinh một đầu được gắn với ống hút nhựa màu trắng đã qua sử dụng, 01(một) hộp nhựa màu đỏ bên trong có 10 (mười) vỏ túi nilon có khóa kẹp một đầu kích thước (2x2,5)cm, 01(một) đoạn ống hút nhựa dài khoảng 19cm một đầu vát nhọn, 01(một) gói giấy vệ sinh bên trong có 01(một) đoạn ống nhựa màu trắng, 01 (một) đoạn ống thủy tinh một đầu có bầu tròn, 01 (một) đoạn ống kim loại hình trụ tròn dài khoảng 7,3cm đã qua sử dụng liên quan đến tội phạm và không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu đen gắn sim thu giữ của Nguyễn Mạnh H1; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu xanh gắn sim thu của Phạm Văn Đ1; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu đen gắn sim và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu trắng thu của Ngô Văn Đ là phương tiện các bị cáo liên lạc vào việc phạm tội nên tịch thu sung ngân sách Nhà nước.
Đối với số tiền 1.100.000 đồng trong số tiền 3.000.000 đồng thu của Ngô Văn Đ là tiền do phạm tội mà có; số tiền còn lại 1.900.000 đồng là tiền riêng của bị cáo không liên quan đến tội phạm nên trả lại cho bị cáo.
- Đối với người đàn ông tên H2 bán ma túy cho Ngô Văn Đ, quá trình điều tra không xác định được nhân thân lai lịch nên không có căn cứ để xử lý.
- Đối với tài khoản ngân hàng mang tên Phạm Mai A, quá trình điều tra xác định tài khoản ngân hàng do H1 sử dụng, Mai A không biết việc H1 mua ma túy sử dụng nên không đề cập.
- Xét đề nghị của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử thấy đề nghị này phù hợp với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của các bị cáo và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
- Về án phí và quyền kháng cáo:
Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm; được quyền kháng cáo Bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Ngô Văn Đ 08 (tám) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 17/6/2024.
Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Phạm Văn Đ1 24 (Hai mươi bốn) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 17/6/2024.
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Mạnh H1 12 (mười hai) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 17/6/2024.
- Về xử lý vật chứng, tài sản:
Căn cứ điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, b, c khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự:
- Tịch thu tiêu huỷ: 2,69 gam Methamphetamine hoàn lại sau giám định; 01(một) túi nilon màu xanh bên trong có 02 (hai) mảnh giấy bạc; 04 mảnh giấy bạc đã qua sử dụng; 02 ống thuỷ tinh một đầu được gắn với ống hút nhựa màu trắng đã qua sử dụng; 01(một) hộp nhựa màu đỏ bên trong có 10 (mười) vỏ túi nilon có khóa kẹp một đầu kích thước (2x2,5)cm; 01(một) đoạn ống hút nhựa dài khoảng 19cm một đầu vát nhọn; 01(một) gói giấy vệ sinh bên trong có 01(một) đoạn ống nhựa màu trắng; 01 (một) đoạn ống thủy tinh một đầu có bầu tròn; 01 (một) đoạn ống kim loại hình trụ tròn dài khoảng 7,3cm.
- Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: Sung ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu đen gắn sim thu giữ của Nguyễn Mạnh H1; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu xanh gắn sim thu của Phạm Văn Đ1; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu đen gắn sim và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu trắng thu của Ngô Văn Đ
(Tình trạng vật chứng như trong biên bản giao nhận vật chứng số 04/BB-THA ngày 02/10/2024 giữa Công an thành phố H và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hạ Long).
- Tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền 1.100.000 đồng trong số tiền 3.000.000 đồng thu của Ngô Văn Đ là tiền do phạm tội mà có; trả lại bị cáo số tiền còn lại 1.900.000 đồng.
(Theo phiếu nhập kho ngày 02/7/2024 tại Kho bạc Nhà nước Q; Nợ TK: 9911, người giao: Đinh Thế A1 - Đơn vị: Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố H; gói gửi mã số 1472 và Biên bản giao nhận tài sản số 104/2024/BBBG-CQCSĐT ngày 02/7/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố H).
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Ngô Văn Đ, Phạm Văn Đ1, Nguyễn Mạnh H1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Thu |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Nguyễn Đăng Cường – Trần Thị Kim Nhung |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Thu |
Bản án số 274/2024/HS-ST ngày 11/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH về hình sự sơ thẩm (mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 274/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Đ + ĐP phạm tội mua bán TP chất ma tuý
