|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số: 274/2024/HS-ST Ngày: 30 - 9 - 2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Bích Liễu.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Xuân Tuất và ông Đinh Xuân Dậu.
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Ngọc Thái Hảo - Thư ký Toà án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Lê Trọng Đại - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 263/2024/TLST-HS ngày 16 tháng 9 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 264/2024/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 9 năm 2024 đối với các bị cáo:
- Đỗ Văn T, sinh năm 2005 tại Vĩnh Long; Cư trú: Ấp M, xã T, huyện T, tỉnh Vĩnh Long; Nghề nghiệp: làm thuê; Trình độ văn hóa: 4/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông (không xác định) và con bà Đỗ Thị P sinh năm 1986; chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: không; Bị bắt phạm tội quả tang ngày 26/3/2024 và bị giam giữ từ ngày 27/3/2024. (Có mặt)
- Phạm Ngọc T1, sinh năm 1993 tại Đồng Nai; Cư trú: Ấp L, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: làm thuê; Trình độ văn hóa: 8/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Văn B (đã chết) và con bà Phạm Văn Đ sinh năm 1972; chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: Ngày 29/9/2014 bị Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 02/02/2015; Bị bắt phạm tội quả tang ngày 26/3/2024 và bị giam giữ từ ngày 27/3/2024. (Có mặt)
- Thân Trọng Đ1, sinh năm 1998 tại Đồng Nai; HKTT: Xóm I, khu B, ấp A, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Nai; Nơi ở hiện nay: ấp T, xã Đ, huyện T, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: làm thuê; Trình độ văn hóa: 8/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Thiên chúa giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Thân Trọng B1 (chết) và con bà Ngô Thị Kim C sinh năm 1979; Vợ: Lê Thị Kim N, sinh năm 1992, có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2019, con nhỏ nhất sinh năm 2020; Tiền án, tiền sự: không; Bị giam giữ từ ngày 27/3/2024. (Có mặt)
- Trần Văn C1, sinh năm 1991 tại Cà Mau; Cư trú: Ấp P, xã Đ, huyện N, tỉnh Cà Mau; Nghề nghiệp: làm thuê; Trình độ văn hóa: không; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn K (đã chết) và con bà Đặng Thị N1 sinh năm 1970; chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: không; Bị giam giữ từ ngày 27/3/2024. (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 20 giờ 30 phút ngày 26/3/2024, Công an xã Đ, huyện T tuần tra đến khu vực đường T 02 thuộc ấp T, xã Đ, huyện T, tỉnh Đồng Nai thì phát hiện Phạm Ngọc T1 điều khiển xe mô tô biển số 60F4-3769 chở Đỗ Văn T ngồi sau, có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra thì Đỗ Văn T ném từ trong bàn tay phải xuống đường 01 gói nylon hàn kín, chứa tinh thể màu trắng. Đỗ Văn T khai đó là ma túy đá cả hai vừa mua với giá 200.000 đồng của Trần Văn C1 và đang trên đường đem về nhà Thân Trọng Đ1 để cùng sử dụng thì bị bắt quả tang. Thu giữ vật chứng gồm: 01 gói nylon kích thước 1x4cm bên trong chứa tinh thể màu trắng; 01 xe mô tô biển số 60F4-3769;01 điện thoại di động hiệu Vsmart gắn 02 sim số 0977554013 và 0981174972. Đồng thời, Công an xã Đ 61 đã tiến hành kiểm tra hành chính nhà Thân Trọng Đ1 và Trần Văn C1 thu giữ vật chứng gồm: 01 hộp nhựa tròn màu đỏ; 01 gói nylon hình vuông (loại túi zip) chứa tinh thể màu trắng; 04 gói nylon dài chứa tinh thể màu trắng hàn kín; 01 xe mô tô Sonic hiệu Suzuki màu xám đen biển số 95H1-496.14 (đã qua sử dụng); 01 điện thoại di động màu xanh hiệu Vivo gắn sim số 0392689958; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus gắn sim số 0927585466; 01 chai nắp màu đỏ đã đục 02 lỗ, 01 lỗ cắm ống hút bằng nhựa màu trắng vàng. Ngày 27/3/2024, Công an xã Đ đã chuyển giao hồ sơ, các đối tượng cùng toàn bộ vật chứng cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T để thụ lý điều tra theo thẩm quyền.
Hành vi của các bị cáo đã thực hiện như sau:
1) Phạm Ngọc T1, Đỗ Văn T và Thân Trọng Đ1 là bạn bè và đều sử dụng ma túy đá. Khoảng 18 giờ ngày 26/3/2024, Đỗ Văn T đến nhà Đ1 chơi, đến khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày thì Phạm Ngọc T1 đến nhà Đ1 chơi. Sau đó, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên Phạm Ngọc T1 nói có 200.000 đồng và nói Đ1 liên lạc cho Trần Văn C1 đặt mua ma túy về cùng sử dụng với nhau thì Đ1 đồng ý, khi Đ1 hỏi mua ma túy thì Có đồng ý bán và hẹn Đ1 đến trước cổng nhà C1 để nhận ma túy, Đ1 đồng ý rồi nói Đỗ Văn T đi cùng Phạm Ngọc T1 đến nhà C1 mua ma túy. Phạm Ngọc T1 điều khiển xe mô tô biển số 60F4-3769 chở Đỗ Văn T đến tiệm tạp hóa gần nhà Đ1, Phạm Ngọc T1 nhờ đổi 200.000 đồng tiền mặt và đưa tiền cho Đỗ Văn T cầm để mua ma túy. Khi đến trước cổng nhà C1 thì Đỗ Văn T cầm 200.000 đồng gọi Có ra bán ma túy. Lúc này, C1 đang chờ sẵn nên Đỗ Văn T thò tay qua cổng thì Có bỏ vào tay Đỗ Văn T 01 gói ma túy và Đỗ Văn T đưa 200.000 đồng cho C1. Sau khi mua được ma túy, Đỗ Văn T cầm ma túy bên trong lòng bàn tay phải của mình ngồi phía sau xe mô tô do Phạm Ngọc T1 điều khiển về nhà Đ1, khi tới đầu đường số B ấp T, xã Đ thì bị Công an phát hiện bắt quả tang.
Ngoài ra, trước ngày 26/3/2024 Phạm Ngọc T1, Đỗ Văn T, Thân Trọng Đ1 đã nhiều lần góp tiền mua ma túy về nhà của Đ1 để cùng sử dụng ma túy chung, cụ thể:
- Lần thứ nhất: Khoảng 18 giờ ngày 20/3/2024, Phạm Ngọc T1 đến nhà Đ1 thì thấy Đ1 đang ngồi ở hành lang bên phải (phía ngoài căn nhà) sử dụng ma túy một mình, thấy trong nỏ thủy tinh của bộ D sử dụng ma túy còn ma túy nên Phạm Ngọc T1 ngồi xuống và cùng sử dụng ma túy với Đ1 (bộ D sử dụng ma túy là của Đ1), trong lúc sử dụng ma túy thì Phạm Ngọc T1 tự nguyện đưa cho Đ1 200.000 đồng để góp tiền mua ma túy cùng sử dụng chung với nhau, ma túy này Đ1 mua của C1 với giá 200.000 đồng;
- Lần thứ hai: Khoảng 19 giờ ngày 21/3/2024, Đỗ Văn T và Phạm Ngọc T1 đến nhà Đ1 chơi, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên Phạm Ngọc T1 đưa cho Đ1 200.000 đồng để Đ1 liên hệ mua ma túy cho cả ba người cùng sử dụng với nhau, thì Đ1 đồng ý rồi liên lạc với C1 đặt mua ma túy, C1 đồng ý hẹn bán ma túy trước cổng nhà, Đ1 đến gặp và mua được 01 gói ma túy đem về nhà, rồi cả ba ngồi sử dụng ma túy với nhau tại ghế đá phía trước cửa phòng khách nhà Đ1, bộ dụng cụ sử dụng ma túy là của Đ1, lần sử dụng ma túy này Đỗ Văn T được sử dụng ma túy miễn phí không phải góp tiền;
- Lần thứ ba: Khoảng 19 giờ ngày 23/3/2024, Phạm Ngọc T1 đến nhà Đ1 thì thấy Đ1 đang ngồi ở hành lang bên phải (phía ngoài căn nhà) sử dụng ma túy một mình, thấy trong nỏ thủy tinh của bộ D sử dụng ma túy còn ma túy nên Phạm Ngọc T1 ngồi xuống cùng sử dụng ma túy với Đ1, trong lúc sử dụng ma túy thì Phạm Ngọc T1 tự nguyện đưa cho Đ1 160.000 đồng để góp tiền mua ma túy cùng sử dụng chung với nhau, ma túy do Đ1 mua của C1 với giá 200.000 đồng;
- Lần thứ tư: Khoảng 15 giờ ngày 24/3/2024, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên Đỗ Văn T đến nhà gặp và đưa cho Đ1 200.000 đồng, T nói Đ1 liên lạc mua ma túy cùng sử dụng thì Đ1 đồng ý rồi liên hệ cho C1 đặt mua 01 gói ma túy, C1 đồng ý hẹn bán ở trước nhà, rồi Đ1 nói T điều khiển xe mô tô mà Đ1 mượn trước đó (không rõ biển số) đến trước cổng nhà C1 và mua 01 gói ma túy của C1 với giá 200.000 đồng, sau đó cả hai cùng sử dụng ma túy với nhau ở hành lang bên phải căn nhà của Đ1, bộ D sử dụng ma túy là của Đ1;
- Lần thứ năm: Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 26/3/2024, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên Đỗ Văn T đến nhà rủ Đ1 mua ma túy cùng sử dụng, đến nơi thấy Đ1 đang ngồi ở hành lang bên phải (phía ngoài căn nhà) sử dụng ma túy một mình, thấy trong nỏ thủy tinh của bộ D sử dụng ma túy còn ma túy nên Đỗ Văn T ngồi xuống cùng sử dụng ma túy với Đ1, trong lúc sử dụng ma túy thì Đỗ Văn T tự nguyện đưa cho Đ1 100.000 đồng để góp tiền mua ma túy cùng sử dụng chung với nhau, ma túy do Đ1 mua của C1 với giá 200.000 đồng.
2) Trần Văn C1 là đối tượng sử dụng ma túy, C1 thường mua của T2 (không rõ nhân thân, lai lịch) ở khu vực vườn điều thuộc ấp L, xã T, huyện T rồi đem về phân thành các gói nhỏ để sử dụng và bán lại kiếm lời. Có liên hệ cho T2 đặt mua 1.500.000 đồng tiền ma túy, T2 đồng ý và hẹn giao ma túy ở khu vực vườn điều thuộc ấp L, xã T, huyện T. Sau đó, C1 đón xe ôm đến điểm hẹn gặp và đưa T2 1.500.000 đồng, T2 cầm tiền rồi đưa Có 01 gói nylon (dạng túi zíp) chứa ma túy đá. Mua được ma túy, C1 đem về nhà rồi phân ma túy vào trong 04 gói nylon nhỏ hơn và hàn kín, mục đích để sử dụng và bán lại kiếm lời. Phân ma túy xong, C1 bỏ 05 gói ma túy (gồm 04 gói ma túy vừa phân và 01 gói nylon (dạng túi zip) chứa ma túy mua của T2) vào trong hộp nhựa hình tròn màu đỏ rồi bỏ hộp nhựa này vào phía sau túi quần Jean đang mặc. Khi C1 đang ở nhà thì bị lực lượng Công an đến kiểm tra phát hiện và thu giữ toàn bộ số ma túy của C1 đang cất giấu trên người. Trước đó vào các ngày 20/3, 21/3, 23/3, 24/3 và 26/3/2024 C1 đã 05 lần bán ma túy cho Thân Trọng Đ1, mỗi lần 200 nghìn đồng tiền ma túy tại nhà của C1.
Tại Bản kết luận giám định số 641/KL-KTHS ngày 04/4/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh Đ kết luận:
- - Mẫu chất tinh thể màu trắng thu giữ của Đỗ Văn T, Phạm Ngọc T1 được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng 0,4923gam, loại Methamphetamine.
- - Mẫu tinh thể màu trắng thu giữ của Trần Văn C1 được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng 3,8384gam, loại Methamphetamine.”.
Xử lý vật chứng:
- -Đối với 01 điện thoại di động, hiệu Vsmart, màu tím, gắn sim số: 0977554013, 0981174972 (đã qua sử dụng), quá trình điều tra xác định đây là tài sản hợp pháp của Phạm Ngọc T1, không liên quan đến việc phạm tội nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho Phạm Ngọc T1.
- -Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu CITI màu đỏ, biển số 60F4-3769 (đã qua sử dụng) kết quả tra cứu biển số xe do ông Đinh Đức H, sinh năm 1971, trú tại: phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai đứng tên trên giấy chứng nhận đăng ký xe. Ông H đã bán cho bà Phạm Thị Đ2, sinh năm 1972 (là mẹ ruột của Phạm Ngọc T1), trú tại: ấp L, xã T, huyện T; việc T1 sử dụng xe vào việc phạm tội thì bà Đ2 không biết nên Cơ quan điều tra trả lại cho bà Đ2.
- -Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Suzuki, loại Satria, màu đen gắn biển số 95H1-496.14 (đã qua sử dụng), kết quả tra cứu biển số xe xác định do anh Nguyễn Thanh P1, sinh năm 1992, trú tại: ấp P, xã Đ, huyện C, tỉnh Hậu Giang đứng tên trên giấy chứng nhận đăng ký xe. Qua làm việc, anh P1 cho biết mua chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Exciter, màu xanh đen, biển số 95H1-496.14 vào năm 2019, sau đó anh P1 đã bán lại chiếc xe trên cho người ngoài xã hội, chiếc xe mô tô biển số 95H1-496.14 của anh P1 không phải xe mô tô nhãn hiệu Suzuki, loại Satria, màu đen gắn biển số 95H1-496.14 hiện Cơ quan điều tra đang tạm giữ. Do đó, Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện T tách ra, tiếp tục xác minh làm rõ xe mô tô trên, xử lý theo quy định pháp luật.
Tại bản cáo trạng số 265/CT-VKS-TB ngày 10 tháng 9 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom truy tố các bị cáo Phạm Ngọc T1, Thân Trọng Đ1 về các tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249; điểm a, b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự; Bị cáo Đỗ Văn T về các tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249; điểm a khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự; Bị cáo Trần Văn C1 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị:
1. Về hình phạt:
- - Xử phạt bị cáo Phạm Ngọc T1, Thân Trọng Đ1 mỗi bị cáo từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt từ 08 năm 06 tháng đến 09 năm 06 tháng tù.
- - Xử phạt bị cáo Đỗ Văn T từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt từ 08 năm đến 09 năm tù.
- - Xử phạt bị cáo Trần Văn C1 từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
2. Về vật chứng:
Đề nghị tịch thu sung công: 02 điện thoại di động; Tịch thu, tiêu hủy 01 phong bì niêm phong ma túy sau giám định ký hiệu số: 641/KL-KTHS ngày 04/4/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh Đ và 01 chai nhựa, 01 hộp nhựa.
3. Về án phí:
Buộc bị cáo chịu án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tại phiên tòa các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội nêu trên, lời nhận tội của các bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, có đủ cơ sở kết luận: Vào ngày 26/3/2024 tại ấp T, xã Đ, huyện T, tỉnh Đồng Nai, các bị cáo Thân Trọng Đ1, Phạm Ngọc T1, Đỗ Văn T đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,4923gam ma túy, loại Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng. Ngoài ra, các bị cáo Thân Trọng Đ1, Phạm Ngọc T1, Đỗ Văn T đã nhiều lần cùng nhau tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy loại Methamphetamine tại nhà của bị cáo Thân Trọng Đ1 ở ấp T, xã Đ, huyện T, tỉnh Đồng Nai, cụ thể:
- + Vào các ngày 20/3 và 23/3/2024 tại nhà của Thân Trọng Đ1 ở ấp T, xã Đ, huyện T, tỉnh Đồng Nai, Thân Trọng Đ1 và Phạm Ngọc T1 đã hai lần góp tiền cho Đ1 mua ma túy về sử dụng chung cùng với nhau.
- + Ngày 24/3 và ngày 26/3/2024 tại nhà của Thân Trọng Đ1 ở ấp T, xã Đ, huyện T, tỉnh Đồng Nai, Thân Trọng Đ1 và Đỗ Văn T đã hai lần góp tiền cho Đ1 mua ma túy về sử dụng chung cùng với nhau .
- + Ngày 21/3/2024 tại nhà của Thân Trọng Đ1 ở ấp T, xã Đ, huyện T, tỉnh Đồng Nai, Thân Trọng Đ1 và Phạm Ngọc T1 đã góp tiền cho Đ1 mua ma túy về cho Đỗ Văn T (Đỗ Văn T không phải góp tiền) sử dụng chung cùng với nhau.
Trong vụ án này, ngày 27/3/2024 tại nhà thuê của Trần Văn C1 ở ấp T, xã Đ, huyện T, tỉnh Đồng Nai, bị cáo Trần Văn C1 đã có hành vi tàng trữ trái phép 3,8384 gam ma túy, loại Methamphetamnie nhằm mục đích bán trái phép cho người khác; Vào các ngày 20, 21, 23, 24/3/2024 tại nhà thuê của Trần Văn C1 ở ấp T, xã Đ, huyện T, tỉnh Đồng Nai, bị cáo Trần Văn C1 đã 04 lần bán ma túy cho Thân Trọng Đ1, mỗi lần 200.000 đồng loại Methamphetamine và ngày 26/3/2024 bán cho Thân Trọng Đ1, Phạm Ngọc T1, Đỗ Văn T 200.000 đồng ma túy loại Methamphetamine.
Vì vậy, hành vi của các bị cáo Phạm Ngọc T1, Thân Trọng Đ1 đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249; điểm a, b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự; Bị cáo Đỗ Văn T đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249; điểm a khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự; Bị cáo Trần Văn C1 đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
[2] Xét tính chất, mức độ phạm tội của các bị cáo thì thấy: Hành vi tàng trữ, mua bán trái phép chất ma túy và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy các bị cáo đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội. Vì ma túy là loại độc dược gây nghiện nên Nhà nước độc quyền quản lý. Nhà nước nghiêm cấm các hoạt động tàng trữ, mua bán, tổ chức sử dụng trái phép các chất ma túy; mặt khác, tổ chức sử dụng trái phép các chất ma túy còn xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ, trật tự an toàn xã hội. Các bị cáo Thân Trọng Đ1, Phạm Ngọc T1, Đỗ Văn T phạm tội mang tính đồng phạm giản đơn, trong đó bị cáo Đ1 là người thực hành tích cực nhất vì đã chuẩn bị công cụ phạm tội, địa điểm, mua ma túy nên có vai trò cao hơn các bị cáo Phạm Ngọc T1, Đỗ Văn T; bị cáo Đỗ Văn T có vai trò thấp nhất đối với hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Đối với hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy bị cáo Thân Trọng Đ1, Phạm Ngọc T1, Đỗ Văn T có vai trò ngang nhau.
[3] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tiền án, tiền sự; Tuy nhiên, bị cáo Phạm Ngọc T1 đã từng bị Tòa án xét xử về tội “Trộm cắp tài sản” nhưng đã được xóa án tích; Các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
[4] Về xử lý vật chứng:
- [4.1] Tịch thu và tiêu hủy số ma túy còn lại sau khi giám định được đựng trong 01 phong bì niêm phong số 641/KL-KTHS ngày 04/4/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh Đ và 01 chai nhựa, 01 hộp nhựa theo quy định tại điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- [4.2] Đối với 01 điện thoại di động hiệu Vivo và 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[5] Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
[6] Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử phù hợp với quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm a, b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 55; Điều 58 Bộ luật Hình sự:
- 1.1 Tuyên bố bị cáo Phạm Ngọc T1, Thân Trọng Đ1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
- 1.2. Xử phạt bị cáo Thân Trọng Đ1 01 (một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo Thân Trọng Đ1 phải chấp hành hình phạt chung là 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày 27/3/2024.
- 1.3. Xử phạt bị cáo Phạm Ngọc T1 01 (một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và 07 (bảy) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo Phạm Ngọc T1 phải chấp hành hình phạt chung là 08 (tám) năm 03 (ba) tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày 26/3/2024.
2. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm a khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 55; Điều 58 Bộ luật Hình sự:
- 2.1 Tuyên bố bị cáo Đỗ Văn T phạm các tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
- 2.2. Xử phạt bị cáo Đỗ Văn T 01 (một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và 07 (bảy) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo Đỗ Văn T phải chấp hành hình phạt chung là 08 (tám) năm tù; thời hạn tù tính từ ngày 26/3/2024.
3. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự:
- 3.1 Tuyên bố bị cáo Trần Văn C1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- 3.2. Xử phạt bị cáo Trần Văn C1 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 27/3/2024.
4. Căn cứ vào điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- - Tịch thu và tiêu hủy toàn bộ số ma túy còn lại sau khi giám định được đựng trong 01 phong bì niêm phong số: 641/KL-KTHS ngày 04/4/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh Đ và 01 chai nhựa, 01 hộp nhựa.
- - Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước 02 điện thoại di động (kèm theo sim).
- (Các vật chứng nêu trên đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Trảng Bom, theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 16/9/2024).
5. Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Buộc các bị cáo Đỗ Văn T, Phạm Ngọc T1, Thân Trọng Đ1, Trần Văn C1 mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
6. Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Đinh Thị Bích Liễu |
Bản án số 274/2024/HS-ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI về vụ án hình sự sơ thẩm về các tội "tàng trữ trái phép chất ma túy", "tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy" và "mua bán trái phép chất ma túy"
- Số bản án: 274/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự sơ thẩm về các tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy", "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy" và "Mua bán trái phép chất ma túy"
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Ngọc T, Thân Trọng Đ và đồng phạm phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
