Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BÌNH CHÁNH

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 274/2024/DSST

Ngày: 23-5-2024

V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH – TP. HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Kim Định.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Vũ Huy Hoàng.
  2. Ông Đặng Văn Ẩn.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Thành – Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Thuận - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 5 năm 2024, tại phòng xử án của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 593/2023/TLST-DS ngày 25/10/2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 232/2024/QĐXXST-DS ngày 26/4/2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP V (V1); Trụ sở chính: Số H L, phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội; Địa chỉ liên lạc: Tầng C, Tòa nhà V1, số B Q, Phường C, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Trung N hoặc ông Trịnh Trần Quang T hoặc ông Trần Minh Hãn T1. Cùng địa chỉ liên hệ: Tầng A, Tòa nhà A, số I C, Phường D, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh. (theo văn bản ủy quyền lập ngày 25/3/2024).

- Bị đơn:

  1. Ông Trịnh Đặng N1, sinh năm 1988;
  2. Bà Lương Thị H, sinh năm 1990;

Cùng địa chỉ: Ki ốt A đường A, xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Người có quyền và nghĩa vụ liên quan: Ông Lâm Huỳnh T2, sinh năm 1990; Địa chỉ: F Ấp F, xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, các bản tự khai, biên bản về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và biên bản về việc không tiến hành hòa giải được nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần V có người đại diện hợp pháp là ông Trần Minh Hãn T1 trình bày:

Ngân hàng Thương mại Cổ phần V – Chi nhánh S (viết tắt là V1) có cho ông Trịnh Đặng N1 vay vốn theo hợp đồng tín dụng sau đây:

- Hợp đồng cho vay số: LN2112214936033 ký ngày 11/01/2022 với nội dung cụ thể như sau:

- Số tiền vay: 455.000.000 đồng (Bằng chữ: bốn trăm năm mươi lăm triệu).

- Thời hạn vay 96 tháng, tính từ ngày tiếp theo của ngày bên ngân hàng giải ngân vốn đầu tiên cho bên vay.

- Mục đích sử dụng tiền vay: Thanh toán tiền mua chiếc xe ô tô hiệu HYUNDAI, Accent bản đặc biệt, 1.4L, AT sản xuất mới 100%.

- Lãi suất tại thời điểm giải ngân là 9%/năm (lãi suất được tinhd theo năm với một năm là 365 ngày), cố định trong 12 tháng. Hết thời hạn 12 tháng, lãi suất cho vay trong hạn sẽ được điều chỉnh, ngày điều chỉnh lãi suất đầu tiên là ngày đầu tiên sau thời gian cố định, ngày điều chỉnh lãi suất tiếp theo là ngày đầu quý gần nhất tính từ ngày điều chỉnh lãi suất đầu tiên. Sau đó lãi suất định kỳ điều chỉnh 03 tháng/lần vào các ngày đầu quý tiếp theo (ngày đầu quý là các ngày 01/01, 01/4, 01/7 và 01/10 hàng năm) trường hợp ngày điều chỉnh lãi suất rơi vào ngày chủ nhật, ngày nghỉ lễ theo quy định của V1 thì ngày điều chỉnh lãi suất là ngày làm việc đầu tiên liền sau ngày chủ nhật, ngày nghỉ lễ đó. mức điều chỉnh được xác định bằng lãi suất cơ sở VND áp dụng đối với khoản vay có tài sản bảo đảm dành cho khách hàng cá nhân kỳ hạn 6 tháng được bên Ngân hàng công bố (được niêm yết tại website: www.V1.com.vn) có hiệu lực tại thời điểm điều chỉnh cộng (+) biên độ 3.6%/năm. Lãi suất được công thêm 3% nếu khách hàng không hoàn thành nghĩa vụ bảo hiểm đối với tài sản đảm bảo.

Tài sản bảo đảm cho khoản vay là: 01 xe ô tô nhãn hiệu HYUNDAI, Accent bản đặc biệt, 1.4L, AT, mang biển kiểm soát số: 61K-021.89, có số khung: RLUA841BBMN053872, số máy: G4LCLF719968, đứng tên ông Trịnh Đặng N1 và bà Lương Thị H theo Hợp đồng thế chấp số LN2112214936033 ký ngày 11/01/2022.

Trong quá trình thực hiện hợp đồng này, ông Trịnh Đặng N1 đã thanh toán cho Ngân hàng hai hợp đồng trên tổng cộng 56.554.104 đồng (Bằng chữ: Năm mươi sáu triệu năm trăm năm mươi bốn nghìn, một trăm lẻ bốn đồng), trong đó thu gốc là: 33.257.349 đồng và thu lãi: 23.296.755 đồng.

Tuy nhiên, kể từ ngày 15/9/2022 ông Trịnh Đặng N1 và bà Lương Thị H không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi theo thỏa thuận nên Ngân hàng đã chuyển nợ quá hạn. Tạm tính đến ngày 23/5/2024, khách hàng còn nợ V1 số tiền là:

- Dư nợ gốc: 421.742.651 đồng;

- Dư nợ lãi: 124.585.625 đồng;

- Tổng dư nợ hiện tại: 546.328.276 đồng.

Ngân hàng đã rất nhiều lần yêu cầu khách hàng thanh toán toàn bộ nợ vay nhưng khách hàng không thực hiện.

Nay Ngân hàng yêu cầu Tòa án giải quyết:

Buộc ông Trịnh Đặng N1 và bà Lương Thị H cùng có trách nhiệm trả cho V1 theo Hợp đồng cho vay số: LN2112214936033 ký ngày 11/01/2022 tính đến ngày 23/5/2024 là 546.328.276 (Năm trăm bốn mươi sáu triệu ba trăm hai mươi tám nghìn hai trăm bảy mươi sáu) đồng (trong đó nợ gốc là 421.742.651 (bốn trăm hai mươi mốt triệu bảy trăm bốn mươi hai nghìn sáu trăm năm mươi mốt) đồng và nợ lãi là 124.585.625 (Một trăm hai mươi bốn triệu năm trăm tám mươi lăm nghìn sáu trăm hai mươi lăm) đồng).

Kể từ ngày tiếp theo, từ ngày 23/5/2024, ông Trịnh Đặng N1 và bà Lương Thị H còn phải thanh toán lãi quá hạn theo thỏa thuận tại các hợp đồng đã ký với ngân hàng.

Trường hợp ông Trịnh Đặng N1 và bà Lương Thị H không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ, thì V1 sẽ yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền kê biên, phát mại tài sản thế chấp là: Tài sản bảo đảm cho khoản vay là 01 xe ô tô nhãn hiệu HYUNDAI, Accent bản đặc biệt, 1.4L, AT, mang biển kiểm soát số: 61K- 021.89, có số khung: RLUA841BBMN053872, số máy: G4LCLF719968, đứng tên ông Trịnh Đặng N1 và bà Lương Thị H theo Hợp đồng thế chấp số LN2112214936033 ký ngày 11/01/2022.

Trường hợp tài sản bảo đảm không đủ thì bị đơn phải có nghĩa vụ trả cho hết các khoản nợ.

Bị đơn - ông Trịnh Đặng N1 có bản tự khai ngày 12/12/2023 trình bày:

Ngày 01/01/2022, giữa ông N1 và Ngân hàng Thương mại Cổ phần V – Chi nhánh S (viết tắt là V1) có ký kết Hợp đồng cho vay số: LN2112214936033 ký với nội dung cụ thể như sau:

- Số tiền vay: 455.000.000 đồng (Bằng chữ: bốn trăm năm mươi lăm triệu).

- Thời hạn vay 96 tháng, tính từ ngày tiếp theo của ngày bên ngân hàng giải ngân vốn vay đầu tiên cho bên vay.

- Mục đích sử dụng tiền vay: Thanh toán tiền mua chiếc xe ô tô hiệu HYUNDAI, Accent bản đặc biệt, 1.4L, AT sản xuất mới 100%.

- Lãi suất tại thời điểm giải ngân là 9%/năm (lãi suất được tính theo năm với một năm là 365 ngày), cố định trong 12 tháng. Hết thời hạn 12 tháng, lãi suất cho vay trong hạn sẽ được điều chỉnh, ngày điều chỉnh lãi suất đầu tiên là ngày đầu tiên sau ngày điều chỉnh lãi suất đầu tiên. Sau đó lãi suất định kỳ điều chỉnh 03 tháng/lần vào thời gian cô định, ngày điều chỉnh lãi suất tiếp theo là ngày đầu quý gần nhất tính từ các ngày đầu quý tiếp theo (ngày đầu quý là các ngày 01/01, 01/4, 01/7 và 01/10 hàng năm), trường hợp ngày điều chỉnh lãi suất rơi vào ngày chủ nhật, ngày nghỉ lễ theo quy định của V1 thì ngày điều chỉnh lãi suất là ngày làm việc đầu tiên liền sau ngày chủ nhật, ngày nghỉ lễ đó, mức điều chỉnh được xác định bằng lãi suất cơ sở VND áp dụng đối với khoản vay có tài sản bảo đảm dành cho khách hàng cá nhân kỳ hạn 06 tháng được bên Ngân hàng công bố (được niêm yết tại website: www.V1.com.vn) có hiệu lực tại thời điểm điều chỉnh cộng (+) biên độ 3.6%/năm. Lãi suất được cộng thêm 3% nếu khách hàng không hoàn thành nghĩa vụ bảo hiểm đối với tài sản đảm bảo.

Tài sản bảo đảm cho khoản vay là: 01 xe ô tô nhãn hiệu HYUNDAI, Accent bản đặc biệt, 1.4L, AT, mang biển kiểm soát số: 61K-021.89, có số khung: RLUA841BBMN053872, số máy: G4LCLF719968, đứng tên ông Trịnh Đặng N1 và bà Lương Thị H theo Hợp đồng thế chấp số LN2112214936033 ký ngày 11/01/2022.

Quá trình thực hiện hợp đồng nêu trên, ông N1 và bà H chỉ trả cho ngân hàng được được mấy tháng rồi ngưng. Lý do: Ông N1 và bà H chỉ đứng ra ký kết hợp đồng tín dụng vay dùm cho ông Lâm Huỳnh T2 để mua xe ô tô. Sau khi ngân hàng giải ngân chuyển tiền cho công ty M xe thì bên công ty mua bán xe chỉ thông báo cho ông N1 qua điện thoại là đã giao xe cho ông T2. Ông T2 là người quản lý, sử dụng xe từ thời điểm ngày 01/01/2022 cho đến nay.

Do đó, trước yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì ông N1 có ý kiến như sau:

- Ông N1 không có khả năng trả khoản tiền nợ nêu trên. Đề nghị Tòa án xử lý tài sản đảo bảo là 01 xe ô tô nhãn hiệu Hyundai, Accent bản đặc biệt, L4L, AT, biển số 61K-021.89, có số khung: RLUA941BBMN053872, số máy G4LCLF719968, đứng tên ông Trịnh Đặng N1 và bà Lương Thị H để thu hồi nợ cho ngân hàng.

- Do ông N1 đứng ra vay hộ cho ông Lâm Huỳnh T2 để mua chiếc xe ô tô nói trên, nên ông N1 không có khả năng chi trả khoản nợ nêu trên. Nên đề nghị Tòa án xử lý tài sản đảm bảo.

Bị đơn - bà Lương Thị H có bản tự khai ngày 14/12/2023 trình bày:

Bà H là vợ của ông N1, số tiền vay Ngân hàng TMCP V - Chi nhánh S là 455.000.000 đồng (bốn trăm năm mươi lăm triệu đồng), đây là nợ chung của bà H và ông N1 nên bà H thống nhất với ý kiến và yêu cầu của ông N1.

Nay với yêu cầu của nguyên đơn thì bà H có ý kiến như sau:

Do bà H và ông N1 đứng ra vay hộ cho ông Lâm Huỳnh T2 để mua chiếc xe ô tô nhãn hiệu Huyndai, Accent bản đặc biệt, 1.4L, AT, biển số 61K-021.89, có số khung: RLUA941BBMN053872, số máy G4LCLF719968, đứng tên ông Trịnh Đặng N1 và bà Lương Thị H theo Hợp đồng thế chấp, nên bà H không có khả năng chi trả khoản nợ nêu trên. Nên đề nghị Tòa án xử lý tài sản đảm bảo để thu hồi nợ cho ngân hàng.

Người có quyền và nghĩa vụ liên quan - Ông Lâm Huỳnh T2 có bản tự khai ngày 20/12/2023 trình bày:

Bà Lương Thị H là vợ của ông Trịnh Đặng N1, đồng thời bà H là chị vợ của ông T2. Vào khoảng cuối năm 2021, ông N1 có nói với ông T2 là Công ty của ông N1 đang chuẩn bị cắt giảm nhân sự ông N1 có dự định chuyển sang chạy G nhưng ông N1 chưa có bằng lái xe ô tô nên ông và ông N1 có thỏa thuận như sau:

- Ông N1 đứng tên vay ngân hàng V1 để mua chiếc xe ô tô nhãn hiệu Huynmdai, Accent bản đặc biệt, 1.4L, AT, biển số 61K-021.89, có số khung: RLUA941BBMN053872, số máy G4LCLF719968.

- Do ông N1 chưa có bằng lái nên ông T2 là người sử dụng chiếc xe trước để phục vụ đi lại và chỉ dạy ông N1 biết chạy xe. Trong thời gian sử dụng chiếc xe ông T2 là người trả trước số tiền để mua xe 120.000.000 đồng và trả lãi gốc hàng tháng cho ngân hàng trong thời gian ông T2 sử dụng và nếu ông N1 lấy xe về thì sẽ thanh toán toàn bộ số tiền mà ông T2 đã bỏ ra 120.000.000 đồng và đóng lãi gốc cho ngân hàng hàng tháng.

Ông T2 đã đóng lãi và gốc cho ngân hàng được 05 tháng, mỗi tháng hơn 8.000.000 đồng. Sau 05 tháng đóng tiền do công việc kinh doanh của ông T2 gặp khó khăn nên ông T2 không có khả năng trả lãi và gốc cho ngân hàng trong thời gian này ông T2 có thông báo cho ông N1 để ông N1 có hướng giải quyết. Sau này, ông T2 được biết ông N1 cũng không trả lãi và gốc cho ngân hàng.

Nay ngân hàng yêu cầu ông N1 và bà H trả số tiền nợ gốc và lãi cho ngân hàng. Trường hợp ông N1 và bà H không có khả năng thanh toán số tiền nợ, thì Ngân hàng TMCP V sẽ yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền kê biên, phát mại tài sản thế chấp là tài sản bảo đảm: 01 xe ô tô nhãn hiệu Huyndai, Accent bản đặc biệt, 1.4L, AT, biển số 61K-021.89. Ông N1 và bà H cũng có ý kiến không có khả năng trả nợ ngân hàng đề nghị phát mãi chiếc xe trên thì ông T2 không đồng ý phát mãi chiếc xe vì ông N1 chưa giải quyết số tiền ông T2 đã bỏ ra 120.000.000 đồng để mua chiếc xe cho ông N1. Ông T2 không yêu cầu giải quyết số tiền trên trong vụ kiện này, nếu sau này có tranh chấp, ông T2 sẽ khởi kiện bằng vụ kiện khác.

Hiện ông T2 đang sử dụng quản lý chiếc xe Hyundai, Accent bản đặc biệt, 1.4L, AT, biển số 61K-021.89 nhưng ông N1 là người đứng tên giấy đăng ký xe.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần V đối với bị đơn ông Trịnh Đặng N1 và bà Lương Thị H về yêu cầu trả số tiền phải thanh toán gốc và lãi quá hạn theo thỏa thuận tại các hợp đồng đã ký với ngân hàng. Trường hợp bị đơn ông Trịnh Đặng N1 và bà Lương Thị H không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì V1 có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp để V1 thu hồi nợ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần V khởi kiện tranh chấp hợp đồng tín dụng đối với bị đơn ông Trịnh Đặng N1 và bà Lương Thị H, cùng có nơi cư trú tại huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh nên căn cứ theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.

[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Ông Trần Minh Hãn T1 đại diện nguyên đơn, ông Trịnh Đặng N1, bà Lương Thị H, ông Lâm Huỳnh T2 đều có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các ông bà trên theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[3] Về thời hiệu khởi kiện của vụ án: Do không có đương sự nào đề nghị áp dụng thời hiệu, căn cứ quy định tại Điều 184 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án không xem xét về thời hiệu đối với vụ kiện này.

[4] Về áp dụng pháp luật: Do hợp đồng dân sự của các bên đương sự thực hiện vào thời điểm Bộ luật dân sự năm 2015 có hiệu lực nên Tòa án áp dụng Bộ luật dân sự năm 2015 để giải quyết vụ án.

[5] Vào ngày 11/01/2022, ông Trịnh Đặng N1 ký kết Hợp đồng cho vay số: LN2112214936033, theo Hợp đồng ông N1 vay của V1 số tiền 455.000.000 (Bốn trăm năm mươi lăm triệu) đồng, thời hạn 96 tháng, lãi suất tại thời điểm giải ngân 9%/năm, ngày giải ngân là 17/01/2022, mục đích vay: mua xe ô tô. Để đảm bảo khoản tiền vay theo Hợp đồng cho vay số: LN2112214936033 ngày 11/01/2022, ông Trịnh Đặng N1 và bà Lương Thị H (vợ ông N1) đã ký kết Hợp đồng thế chấp số LN2112214936033 ký ngày 11/01/2022, với nội dung thế chấp chiếc xe ô tô nhãn hiệu Huyndai, Accent bản đặc biệt, 1.4L, AT, biển số 61K-021.89, có số khung: RLUA941BBMN053872, số máy G4LCLF719968, đứng tên ông Trịnh Đặng N1, do Phòng C Công an Tỉnh B cấp cho ông Trịnh Đặng N1.

Trong quá trình vay, ông N1 và bà H đã thanh toán cho Ngân hàng hai hợp đồng trên tổng cộng 56.554.104 (Năm mươi sáu triệu năm trăm năm mươi bốn nghìn một trăm lẻ bốn) đồng, trong đó thu gốc là: 33.257.349 đồng và thu lãi: 23.296.755 đồng. Kể từ 15/9/2022 cho đến nay, ông N1 không trả tiền gốc và lãi cho V1, nay ngân hàng yêu cầu ông N1 và bà H trả cho ngân hàng tổng số tiền 546.328.276 đồng (trong đó trả gốc là 421.742.651 đồng và trả lãi là 124.585.625 đồng).

Kể từ ngày tiếp theo, từ ngày 23/5/2024, ông Trịnh Đặng N1 và bà Lương Thị H còn phải thanh toán lãi quá hạn theo thỏa thuận tại các hợp đồng đã ký với ngân hàng. Trường hợp bị đơn ông Trịnh Đặng N1 và bà Lương Thị H không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì V1 có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp để V1 thu hồi nợ.

[6] Hội đồng xét xử xét thấy Hợp đồng cho vay số LN2112214936033 ngày 11/01/2022 được ký kết giữa Ngân hàng V1 với ông Trịnh Đặng N1 là hoàn toàn tự nguyện, các nội dung thỏa thuận trong Hợp đồng phù hợp với quy định của pháp luật, không trái đạo đức xã hội nên xác định là hợp đồng hợp pháp. Sau khi ký kết hợp đồng, ngày 17/01/2022, V1 đã thực hiện đúng thỏa thuận giải ngân cho ông N1 vay số tiền 455.000.000 (Bốn trăm năm mươi lăm triệu) đồng. Quá trình thực hiện hợp đồng, ông N1 mới trả được số tiền nợ gốc 33.257.349 (Ba mươi ba triệu hai trăm năm mươi bảy nghìn ba trăm bốn mươi chín) đồng, từ ngày 15/9/2022, ông N1 vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo định kỳ nên V1 đã chuyển số tiền nợ gốc còn lại 421.742.651 (Bốn trăm hai mươi mốt triệu bảy trăm bốn mươi hai nghìn sáu trăm năm mươi mốt) đồng sang nợ quá hạn và yêu cầu trả số tiền nợ trên là đúng quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[7] Đối với yêu cầu trả lãi theo Hợp đồng cho vay số LN2112214936033 ngày 11/01/2022 quy định lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm giải ngân là 9%/năm và được điều chỉnh định kì 03 tháng/lần; lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn. Quá trình thực hiện hợp đồng V1 đã điều chỉnh mức lãi suất, tính lãi trong hạn, lãi quá hạn theo đúng với thỏa thuận. Trong quá trình vay, ông N1 đã thanh toán cho V1 số tiền lãi là 23.296.755 đồng. Số tiền lãi còn lại ông N1 đang nợ V1 là 124.585.625 đồng là có căn cứ, phù hợp quy định tại Điều 357, Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng, sửa đổi, bổ sung năm 2017 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[8] Căn cứ Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 có quy định “Đối với trường hợp chậm thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng mà các bên có thỏa thuận về việc trả lãi thì quyết định kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật”. Do đó, yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc ông Trịnh Đặng N1 và bà Lương Thị H tiếp tục chịu lãi phát sinh sau khi xét xử là có cơ sở chấp nhận.

Như vậy, ông N1 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán đã cam kết trong hợp đồng cho vay kiêm Hợp đồng thế chấp xe ô tô số LN2112214936033 ngày 11/01/2022. Do đó, V1 yêu cầu ông N1 và bà H trả số tiền vốn, lãi tổng cộng: 546.328.276 đồng (trong đó trả gốc là 421.742.651 đồng và trả lãi là 124.585.625 đồng) (tiền lãi tính đến ngày xét xử sơ thẩm 23/5/2024), và tiếp tục trả lãi sau ngày 23/5/2024 cho đến khi trả xong nợ là có căn cứ, được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[9] Đối với yêu cầu xử lý tài sản thế chấp: Để đảm bảo khoản tiền vay theo Hợp đồng cho vay số LN2112214936033 ngày 11/01/2022, ông N1 và bà H đã ký kết Hợp đồng thế chấp xe ô tô số LN2112214936033 ngày 11/01/2022 (cùng số và ngày với Hợp đồng cho vay), tài sản thế chấp là 01 chiếc xe ô tô nhãn hiệu Huyndai, Accent bản đặc biệt, 1.4L, AT, biển số 61K-021.89, có số khung: RLUA941BBMN053872, số máy G4LCLF719968, đứng tên ông Trịnh Đặng N1, do Phòng C Công an Tỉnh B cấp cho ông Trịnh Đặng N1. V1 và ông N1, bà H đã thực hiện đăng ký giao dịch tài sản đảm bảo theo đúng quy định pháp luật; tài sản thế chấp thuộc quyền sở hữu của vợ chồng ông N1 bà H, các nội dung trong hợp đồng thế chấp phù hợp với quy định của pháp luật, không trái đạo đức xã hội nên Hợp đồng thế chấp có hiệu lực pháp luật nên Ngân hàng có quyền yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp nếu ông N1 và bà H không trả nợ. Do đó, yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp để đảm bảo việc thi hành án được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Nên người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lâm Huỳnh T2 cho rằng không đồng ý phát mãi chiếc xe ô tô nêu trên vì ông N1 chưa giải quyết số tiền 120.000.000 đồng mà ông T2 đã bỏ ra để mua chiếc xe ô tô cho ông N1 là không có cơ sở, Hội đồng xét xử không chấp nhận. Ông T2 không yêu cầu giải quyết số tiền trên trong vụ kiện này, nếu sau này có tranh chấp, ông T2 sẽ khởi kiện bằng vụ kiện khác.

[10] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[11] Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Trịnh Đặng N1 và bà Lương Thị H phải chịu 25.853.131 (Hai mươi lăm triệu tám trăm năm mươi ba nghìn một trăm ba mươi mốt) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP V số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 11.496.999 (mười một triệu bốn trăm chín mươi sáu nghìn chín trăm chín mươi chín) đồng, theo biên lai số AA/2021/0011500 ngày 29 tháng 6 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 26, 35, 39, 91, 147, 227, 228 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ các Điều 288, 317, 318, 320, 321, 322, 323, 324, 357, 463, 466 và Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

Căn cứ Điều 91 và Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Căn cứ Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao về hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;

Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần V đối với bị đơn ông Trịnh Đặng N1 và bà Lương Thị H về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng.
    1. Buộc ông Trịnh Đặng N1 và bà Lương Thị H cùng có trách nhiệm trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần V tính đến ngày 23/5/2024 là 546.328.276 (Năm trăm bốn mươi sáu triệu ba trăm hai mươi tám nghìn hai trăm bảy mươi sáu) đồng, trong đó: nợ gốc là 421.742.651 (Bốn trăm hai mươi mốt triệu bảy trăm bốn mươi hai nghìn sáu trăm năm mươi mốt) đồng, nợ lãi là 124.585.625 (Một trăm hai mươi bốn triệu năm trăm tám mươi lăm nghìn sáu trăm hai mươi lăm) đồng.

    Các bên đương sự thực hiện việc giao nhận tiền tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.

    Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, ông Trịnh Đặng N1 và bà Lương Thị H còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này.

    1. Trường hợp ông Trịnh Đặng N1 và bà Lương Thị H không thanh toán đầy đủ dư nợ gốc và lãi phát sinh cho Ngân hàng thương mại cổ phần V thì Ngân hàng thương mại cổ phần V có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền kê biên, phát mại tài sản thế chấp của ông N1 và bà H theo Hợp đồng thế chấp xe ô tô nhãn hiệu Huyndai, Accent bản đặc biệt, 1.4L, AT, biển số 61K-021.89, có số khung: RLUA941BBMN053872, số máy G4LCLF719968, đứng tên ông Trịnh Đặng N1, do Phòng C Công an Tỉnh B cấp cho ông Trịnh Đặng N1 để thu hồi nợ.

    Toàn bộ số tiền thu được từ việc xử lý tài sản thế chấp được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ của ông N1 và bà H đối với Ngân hàng thương mại cổ phần V, nếu số tiền thu được không đủ để trả nợ thì ông N1 và bà H vẫn phải trả hết số nợ còn lại cho ngân hàng.

    Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong hợp đồng tương ứng với thời gian chậm trả.

    Ông Lâm Huỳnh T2 không yêu cầu Tòa giải quyết số tiền 120.000.000 (Một trăm hai mươi triệu) đồng mà ông T2 bỏ ra mua xe cho ông N1 (xe ô tô nhãn hiệu Huyndai, Accent bản đặc biệt, 1.4L, AT, biển số 61K-021.89, có số khung: RLUA941BBMN053872, số máy G4LCLF719968, đứng tên ông Trịnh Đặng N1) trong vụ kiện này, nếu sau này có tranh chấp, ông T2 sẽ khởi kiện bằng vụ kiện khác.

  2. Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm:
  3. Ông Trịnh Đặng N1 và bà H phải chịu 25.853.131 (Hai mươi lăm triệu tám trăm năm mươi ba nghìn một trăm ba mươi mốt) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

    Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP V số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 11.496.999 (mười một triệu bốn trăm chín mươi sáu nghìn chín trăm chín mươi chín) đồng, theo biên lai số AA/2021/0011500 ngày 29 tháng 6 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

  4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc được niêm yết theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Nơi nhận:

- TAND TP. HCM;

- VKSND H.BC;

- THADS H.BC;

- Các đương sự;

- Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Kim Định

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 274/2024/DSST ngày 23/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 274/2024/DSST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng (VPBANK) - Trịnh Đặng Nam, Lương Thị Hương
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger