|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT TỈNH ĐẮK LẮK Bản án số: 274/2024/DS-ST Ngày: 18/9/2024 “V/v Đòi tài sản” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Hồ Tùng Mận
2. Ông Trần Văn Nghị
- Thư ký phiên tòa: Ông Y Kăn Niê–Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Phương Thảo – Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số: 494/2024/TLST-DS ngày 17 tháng 6 năm 2024 về “Đòi tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 259/2024/QĐXXST-DS ngày 07 tháng 8 năm 2024 giữa:
* Đồng nguyên đơn:
- Bà Nguyễn Thị K – Sinh năm 1989 (Có mặt)
- Bà Nguyễn Thị H – Sinh năm: 1993 (Có mặt)
Nơi đăng ký HKTT: Số E đường M, phường E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
Địa chỉ: Số nhà C Thôn B, xã C, huyện C, tỉnh Đắk Lắk.
* Bị đơn: Ông Trần Ngọc M – Sinh năm 1984 (Vắng mặt)
Nơi đăng ký HKTT: Số F đường A, Buôn E, xã E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo Đơn khởi kiện, quá trình làm việc tại Tòa án và tại phiên tòa nguyên đơn bà Nguyễn Thị K, bà Nguyễn Thị H trình bày:
Ngày 22 tháng 06 năm 2021 bà Nguyễn Thị K và bà Nguyễn Thị H đặt cọc số tiền: 364.000.000 đồng (bằng chữ: Ba trăm sáu mươi bốn triệu đồng) để nhận chuyển nhượng lô đất thuộc thửa đất số 426, tờ bản đồ số 27, tọa lạc tại xã E, thành phố B của ông Phạm Văn P, Đinh Văn L, Trần Ngọc M, Trần Đức N. Theo thỏa thuận thì ông Phạm Văn P đứng tên trên hợp đồng mua bán đất đề ngày 22/6/2021 và ông Đinh Văn L ký tên là người làm chứng. Theo hợp đồng mua bán đất đến ngày 22/6/2021 có nội dung: Giá chuyển nhượng là 3.640.000.000 đồng (Ba tỷ sáu trăm bốn mươi triệu đồng); Thời hạn đặt cọc 180 ngày kể từ ngày 22/6/2021.
Sau đó tới ngày 08 tháng 01 năm 2022 do bên bán không hoàn thành được giấy tờ đất để làm thủ tục sang tên nên tất cả mọi người đã thống nhất gia hạn lại ngày công chứng và soạn thảo lại giấy cọc. Theo đó ông Phạm Văn P, bà Nguyễn Thị H đồng ý cùng nhau ký lại Hợp đồng đặt cọc đến ngày 08/01/2022, nội dung như Hợp đồng mua bán đất đến ngày 22/6/2021 chỉ thay đổi về thời hạn đặt cọc là 180 ngày kể từ ngày 08/01/2022, tiến độ thanh toán vẫn giữ nguyên như trong Hợp đồng mua đất ngày 22/6/2021. Hợp đồng đặt cọc ngày 08/01/2022 chỉ có bà H, ông P ký, còn bà K không ký vì hôm đó bà K không có mặt. Tuy nhiên bà K cũng thống nhất ý kiến như trên.
Nhưng tới hẹn thì bên bán vẫn không hoàn thành được hợp đồng cọc. Tới ngày 22 tháng 02 năm 2023 sau nhiều lần hứa hẹn thanh toán thì tất cả mọi người đã lập và đồng ý thống nhất ký vào văn bản thỏa thuận thanh lý hợp đồng cọc và đền C nhưng bên bán vẫn không thực hiện được nên bà H, bà K đã khởi kiện bên bán lên Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột. Sau khi được Tòa án hòa giải thì các bên quyết định lập văn bản thỏa thuận mới vào ngày 06 tháng 09 năm 2023, nội dung: Ông Trần Ngọc M có trách nhiệm trả cho bà K và bà H 91.000.000 đồng tiền cọc; Thời gian trả nợ chậm nhất ngày 13/9/2023, ông M trả cho bà K và bà H 10.000.000 đồng; Trường hợp ông M trả đúng hạn thì bà K và bà H gia hạn thời gian trả khoản nợ còn lại 81.000.000 đồng đến hết ngày 09/3/2024; Trường hợp ông M không trả đúng hạn thì bà K và bà H có quyền khởi kiện đối với tổng số tiền trả cọc còn nợ và số tiền đền C là 91.000.000 đồng.
Ông Trần Ngọc M đã trả được cho bà K và bà H số tiền 10.000.000 đồng. Ông M đã chuyển khoản 10.000.000 đồng cho bà K đúng theo thời hạn đã thỏa thuận trong Văn bản thỏa thuận lập ngày 06/9/2023. Bà K đã đưa cho bà H 5.000.000 đồng, giữa bà K và bà H không có tranh chấp gì về số tiền 10.000.000 đồng mà ông M đã trả này. Tuy nhiên đến ngày trả nợ tiếp theo ngày 09/3/2024 thì ông M không thực hiện đúng như thỏa thuận, không trả số tiền 81.000.000 đồng tiền cọc còn nợ lại. Mặc dù bà K và bà H đã nhiều lần liên lạc với ông M yêu cầu trả nợ nhưng đến nay ông M vẫn không trả tiền cho bà K, bà H.
Nay bà Nguyễn Thị K và bà Nguyễn Thị H khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc ông Trần Ngọc M phải trả cho bà K và bà H số tiền 81.000.000 đồng tiền cọc còn nợ và 91.000.000 đồng tiền phạt cọc do ông M đã vi phạm thời hạn trả nợ theo Văn bản thỏa thuận lập ngày 06/9/2023, tổng cộng yêu cầu ông M phải trả số tiền 172.000.000 đồng. Bà K và bà H không yêu cầu tính lãi chậm trả.
Ông Trần Ngọc M vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án mặc dù đã được tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật nhưng cố tình không hợp tác làm việc, vắng mặt tham gia tố tụng nên Tòa án không thể tiến hành lấy lời khai, kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải được.
* Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử Thẩm phán đã thực hiện đúng các quy định của Điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử, nguyên đơn đã tuân theo đúng các quy định từ Điều 239 đến Điều 263 của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án. Bị đơn đã không chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 220, Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng Dân sự; Điều 274, Điều 275, Điều 328, Điều 418, Điều 422, Điều 423, Điều 427 Bộ luật Dân sự năm 2015; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn ông Trần Ngọc M phải trả cho nguyên đơn bà Nguyễn Thị H và bà Nguyễn Thị K số tiền 172.000.000 đồng, bà H và bà K không yêu cầu tính lãi.
Về án phí, chi phí tố tụng: Đương sự phải chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thẩm quyền giải quyết và quan hệ pháp luật tranh chấp: Bà Nguyễn Thị H, bà Nguyễn Thị K khởi kiện ông Trần Ngọc M; Địa chỉ: Buôn Ea Nao B, xã E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk về việc “Đòi tài sản”, đây là tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về thủ tục tố tụng:
Bị đơn ông Trần Ngọc M đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng không có mặt tại Tòa án để làm việc. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp theo quy định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[3] Về nội dung:
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị H, bà Nguyễn Thị K yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Trần Ngọc M trả lại cho bà Nguyễn Thị H, bà Nguyễn Thị K số tiền 172.000.000 đồng theo thỏa thuận trong Văn bản thỏa thuận đề ngày 06/9/2023 và không yêu cầu tính lãi.
Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Ngày 22 tháng 06 năm 2021, bà Nguyễn Thị K, bà Nguyễn Thị H ký hợp đồng đặt cọc số tiền 364.000.000 đồng (Ba trăm sáu mươi bốn triệu đồng) để nhận chuyển nhượng lô đất thuộc thửa đất số 426, tờ bản đồ số 27, tọa lạc tại xã E, thành phố B của ông Phạm Văn P, Đinh Văn L, Trần Ngọc M, Trần Đức N. Theo thỏa thuận thì ông Phạm Văn P đứng tên trên hợp đồng mua bán đất đề ngày 22/6/2021 và ông Đinh Văn L ký tên là người làm chứng. Theo hợp đồng mua bán đất đề ngày 22/6/2021 có nội dung: Giá chuyển nhượng là 3.640.000.000 đồng (Ba tỷ sáu trăm bốn mươi triệu đồng); Thời hạn đặt cọc 180 ngày kể từ ngày 22/6/2021. Do không thực hiện được như thoả thuận trong hợp đồng đặt cọc nên ngày 08 tháng 01 năm 2022 ông Phạm Văn P, bà Nguyễn Thị H ký lại Hợp đồng đặt cọc thay đổi thời hạn đặt cọc là 180 ngày kể từ ngày 08/01/2022. Tới ngày 22 tháng 02 năm 2023 những người có liên quan đã cùng nhau ký văn bản thỏa thuận thanh lý hợp đồng cọc và đền C với nội dung thống nhất dừng hợp đồng mua bán và đền cọc như sau: Trả lại tiền cọc 364.000.000 đồng, đền cọc 364.000.000 đồng nhưng ông Trần Đức N, ông Đinh Văn L, ông Trần Ngọc M, ông Phạm Văn P không trả cho bà H, bà K. Đến ngày 06 tháng 09 năm 2023, ông Trần Đức N, ông Đinh Văn L, ông Trần Ngọc M, ông Phạm Văn P và bà H, bà K lập một Văn bản thoả thuận nội dung trong đó ông Trần Ngọc M có trách nhiệm trả cho bà Nguyễn Thị H, Nguyễn Thị K số tiền 10.000.000 đồng chậm nhất ngày 13/9/2023. Nếu ông Trần Ngọc M trả đúng hạn thì bà K, bà H gia hạn khoản nợ còn lại 81.000.000 đồng đến hết ngày 09/3/2024. Trường hợp ông M không trả đúng hạn thì bà K, bà H có quyền khởi kiện đối với tổng số tiền trả cọc còn nợ và số tiền đền C là 91.000.000 đồng. Ông M chỉ mới trả được 10.000.000 đồng cho bà K và bà H, đến ngày 09/3/2024 ông M vẫn chưa trả được số tiền còn lại cho bà H, bà K.
Như vậy, nguồn gốc ban đầu là giữa các đương sự có Hợp đồng đặt cọc thỏa thuận bà H, bà K nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Tuy nhiên quá trình thực hiện hợp đồng đặt cọc các bên đã có văn bản thỏa thuận về việc chấm dứt hợp đồng đặt cọc đồng thời thỏa thuận về việc trả số tiền đã đặt cọc nhưng ông Trần Ngọc M đã vi phạm thời hạn trả nợ như trong Văn bản thỏa thuận đề ngày 06/9/2023.
Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Trần Ngọc M đã được triệu tập hợp lệ nhưng không đến Tòa án làm việc cũng không gửi văn bản thể hiện ý kiến của mình đối với nội dung vụ án nên Tòa án không thể tiến hành lấy lời khai, tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ được. Nguyên đơn bà H, bà K có đơn đề nghị giám định chữ ký, chữ viết Trần Ngọc M trong Văn bản thoả thuận đề ngày 06/9/2023. Kết luận giám định số 1124/KL-KTHS ngày 26/7/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh Đ kết luận chữ ký, chữ viết đúng là của ông Trần Ngọc M.
Do đó Hội đồng xét xử xét thấy có đủ căn cứ buộc ông Trần Ngọc M phải có trách nhiệm trả cho bà Nguyễn Thị H, bà Nguyễn Thị K số tiền là 172.000.000 đồng là phù hợp.
[4] Về chi phí trưng cầu giám định chữ ký, chữ viết: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị H, bà Nguyễn Thị K được chấp nhận nên bị đơn ông Trần Ngọc M phải chịu chi phí trưng cầu giám định chữ ký, chữ viết là 4.590.000 đồng. Bà K, bà H được nhận lại tiền tạm ứng chi phí trưng cầu giám định chữ ký, chữ viết là 4.590.000 đồng, sau khi thu được từ ông Trần Ngọc M.
[5] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị H, bà Nguyễn Thị K được chấp nhận nên ông Trần Ngọc M phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 8.600.000 đồng.
Nguyên đơn bà Nguyễn Thị H không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và được nhận lại số tiền tạm ứng án phí 4.300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu số AA/2023/0010223 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Buôn Ma Thuột ngày 03/6/2024.
Bà Nguyễn Thị K không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và được nhận lại số tiền tạm ứng án phí 4.300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu số AA/2023/0010225 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Buôn Ma Thuột ngày 03/6/2024.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 220, Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng Dân sự;
Căn cứ Điều 274, Điều 275, Điều 328, Điều 418, Điều 422, Điều 423, Điều 427 Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị H, bà Nguyễn Thị K. Buộc bị đơn ông Trần Ngọc M phải trả cho bà Nguyễn Thị H, bà Nguyễn Thị K số tiền 172.000.000 đồng (Một trăm bảy mươi hai triệu đồng). Bà Nguyễn Thị H, bà Nguyễn Thị K không yêu cầu tính lãi.
Về chi phí trưng cầu giám định chữ ký, chữ viết: Ông Trần Ngọc M phải chịu chi phí trưng cầu giám định chữ ký, chữ viết là 4.590.000 đồng. Bà Nguyễn Thị H, bà Nguyễn Thị K được nhận lại tiền tạm ứng chi phí trưng cầu giám định chữ ký, chữ viết là 4.590.000 đồng, sau khi thu được từ ông Trần Ngọc M.
Về án phí: Ông Trần Ngọc M phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 8.600.000 đồng.
Nguyên đơn bà Nguyễn Thị H không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và được nhận lại số tiền tạm ứng án phí 4.300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu số AA/2023/0010223 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Buôn Ma Thuột ngày 03/6/2024.
Bà Nguyễn Thị K không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và được nhận lại số tiền tạm ứng án phí 4.300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu số AA/2023/0010225 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Buôn Ma Thuột ngày 03/6/2024.
Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Mỹ Hạnh |
Bản án số 274/2024/DS-ST ngày 18/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK về đòi tài sản
- Số bản án: 274/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Đòi tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đòi tài sản
