|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 274/2024/HS-ST
Ngày: 16/9/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
|
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Các Hội thẩm nhân dân |
Ông Vũ Thanh Tùng Bà Nguyễn Thị Cờ Ông Nguyễn Phan Anh |
|
Thư ký ghi biên bản phiên tòa |
Bà Trần Phương Ly |
|
Thư ký Tòa án nhân dân quận Đống Đa – Thành phố Hà Nội. |
|
|
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa tham gia phiên tòa: Ông Tạ Hà Giang – Kiểm sát viên. |
|
Ngày 16/9/2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 250/2024/HSST ngày 23/8/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 267/2024/QĐXXST-HS ngày 30/8/2024, đối với các bị cáo có lý lịch như sau:
1. Hồ Hải L – Sinh năm 1987; Giới tính: Nam; Nơi ĐKHKTT: Số D ngõ A V, phường K, quận T, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Hồ Văn T – Sinh năm: 1956; Con bà: Bùi Thị Minh H – Sinh năm: 1957; Vợ, con: Nguyễn Thị Hải A – Sinh năm: 1995 (đã ly hôn), có 01 con sinh năm 2019; D chỉ bản số 221 lập ngày 21/3/2024 tại Công an quận Đ, thành phố Hà Nội. Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 11/3/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 – Công an thành phố H. (có mặt tại phiên toà);
2. Nguyễn Thị H1 – Sinh năm 2000; Giới tính: Nữ; Nơi ĐKHKTT: Thôn Đ, xã T, huyện T, tỉnh Yên Bái; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Nguyễn Văn T1 – Sinh năm: 1972; Con bà: Nguyễn Thị S – Sinh năm: 1982; Chồng, con: Không có; D chỉ bản số 224 lập ngày 21/3/2024 tại Công an quận Đ, thành phố Hà Nội. Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/3/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 – Công an thành phố H. (có mặt tại phiên toà);
3. Phạm Thị Lệ T2 – Sinh năm 1995; Giới tính: Nữ; Nơi ĐKHKTT: Tổ 4 ấp A, xã T, huyện B, tỉnh Bình Phước; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 10/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Phạm Minh T3 – Sinh năm: 1976; Con bà: Lê Thị L1 – Sinh năm: 1978; Anh chị em: Không có; Chồng, con: Không có; D chỉ bản số 222 lập ngày 21/3/2024 tại Công an quận Đ, thành phố Hà Nội. Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giữ từ ngày 11/3/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 – Công an thành phố H. (có mặt tại phiên toà);
4. Nguyễn Thị Thu H2 – Sinh năm 2000; Giới tính: Nữ; Nơi ĐKHKTT: P, quận B, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Nguyễn Thanh H3 – Sinh năm: 1969; Con bà: Phạm Thị Thanh H4 – Sinh năm: 1973; D chỉ bản số 225 lập ngày 21/3/2024 tại Công an quận Đ, thành phố Hà Nội. Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ, tạm giam ngày 11/3/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an quận Đ, thành phố Hà Nội. (có mặt tại phiên toà);
5. K'Mơ – Sinh năm 1995; Giới tính: Nữ; Nơi ĐKHKTT: Thôn R, xã Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Quốc tịch : Việt Nam; Dân tộc: Cơ Ho; Tôn giáo: Công giáo; Con ông: Pang Ting K – Sinh năm: 1972; Con bà: K'Jông – Sinh năm: 1972; Anh chị em: Gia đình có 03 chị em, bị can là con út; Chồng, con: Không có; D chỉ bản số 223 lập ngày 21/3/2024 tại Công an quận Đ, thành phố Hà Nội. Tiền án, tiền sự: Không; Bị can bị bắt khẩn cấp, bị tạm giữ từ ngày 11/3/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 – Công an thành phố H. (có mặt tại phiên toà);
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Việt A1, sinh năm 1995; Địa chỉ: B, xã H, huyện H, tỉnh Bắc Giang (có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 02h00 ngày 11/3/2024, tại Phòng 604 số C Đê L, phường P, quận Đ, thành phố Hà Nội, tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an quận Đ phối hợp cùng Công an phường P kiểm tra, bắt quả tang Nguyễn Thị H1, Hồ Hải L, Phạm Thị Lệ T2 và K đang sử dụng trái phép chất ma túy. Cơ quan công an tạm giữ trên giường ngủ gồm 01 đĩa sứ màu trắng đường kính khoảng 20cm có dính tinh thể màu trắng, 01 thẻ nhựa màu trắng, 01 tờ tiền (mệnh giá 20.000 đồng) cuộn dạng ống hút, 01 vỏ túi nilon kích thước khoảng 2x2cm dính tinh thể màu trắng. Tạm giữ trên bàn trang điểm gồm 01 bát sứ màu trắng đường kính khoảng 15cm có dính chất lỏng màu đỏ, 01 thìa kim loại dài khoảng 20cm dính chất lỏng màu đỏ. Tạm giữ trên bàn bếp 04 túi nilon màu đỏ trên bề mặt có chữ Ferrari kích thước mỗi túi khoảng 4x8cm đều dính chất bột màu cam. Tạm giữ trên nền nhà 01 loa nghe nhạc màu xanh.
Tại Kết luận giám định số 2005/KL-KTHS ngày 20/3/2024 của Phòng K1 - Công an thành phố H, kết luận:
- - 01 đĩa sứ màu trắng, 01 thẻ nhựa màu trắng, 01 túi nilong và 01 ống hút bằng tờ tiền mệnh giá 20.000 VNĐ đều có dính ma túy loại Ketamine.
- - 04 túi nilong màu đỏ trên bề mặt có chữ F đều có dính ma túy loại Methamphetamine, ma túy loại 2C-B, ma túy loại Ketamine và N.
- - 01 bát sứ màu trắng và 01 thìa kim loại đều có dính ma túy loại Methamphetamine, ma túy loại 2C-B, ma túy loại Ketamine và N.
Tại chỗ, L khai nhận số ma tuý nước vui các đối tượng vừa sử dụng là do L nhờ Nguyễn Thị Thu H2 mua hộ, cơ quan điều tra đã triệu tập H2 đến trụ sở để làm rõ.
Quá trình bắt giữ L, T2, H1 và K, cơ quan Công an phát hiện có Nguyễn Việt A1 (Sinh năm: 1995, Nơi thường trú: B, xã H, huyện H, tỉnh Bắc Giang) đang đứng trước số C Đê L, phường P có biểu hiện nghi vấn nên đã mời về trụ sở để làm việc.
Tại cơ quan điều tra, các đối tượng Hồ Hải L, Nguyễn Thị H1, Phạm Thị Lệ T2, K và Nguyễn Thị Thu H2 khai nhận như sau: 00h00 ngày 09/3/2024, L rủ H1 về nơi ở của H1 để sử dụng ma túy và được H1 đồng ý. Sau đó L mang theo 01 túi nước vui (do Nguyễn Thị Thu H2 cho từ trước) đến để sử dụng cùng H1. Khoảng 05 giờ cùng ngày H1 liên lạc bằng mạng xã hội rủ T2 và K đến nhà để sử dụng ma túy thì L cũng biết và đồng ý. Đến khoảng 7h30 ngày 09/3/2024, K và T2 lần lượt đến nơi ở của H1 cùng sử dụng ma túy nước vui. Sau khi sử dụng hết ma túy nước vui, do L không gọi được Ketamine nên T2 đã liên lạc qua Z mua được 01 chỉ Ketamine với giá 3.300.000 đồng. L là người trả tiền mua ma tuý bằng hình thức chuyển khoản đến tài khoản số 19033462355013 tại Ngân hàng T7 do T2 cung cấp. Sau khi sử dụng hết Ketamine, L liên hệ với Nguyễn Thị Thu H2 nhờ mua hộ ma túy “nước vui”. H2 đồng ý và liên lạc với đối tượng tên H5 qua ứng dụng Telegram để hỏi mua ma túy. H5 báo giá 3.500.000 đồng/01 túi và gửi H2 tài khoản số [...] tại Ngân hàng T7 để nhận tiền mua ma túy. H2 sao chép lại số tài khoản ngân hàng này rồi gửi cho L, sau khi L chuyển tiền mua ma túy và gửi biên lai giao dịch ngân hàng cho H2, H2 sẽ báo lại cho H5 biết và thúc giục H5 để giao ma túy cho L. Bằng phương thức này, trong các khoảng thời gian 00h20, 06h30 và 15h20 ngày 10/3/2024, H2 đã mua ma túy hộ L ba lần, mỗi lần mua 01 túi “nước vui”.
Đến khoảng 18h00 ngày 10/3/2024, K rủ Việt A1 đến nhà H1 để sử dụng ma túy cùng, K' Mơ có mời Việt A1 sử dụng ma túy nhiều lần nhưng Việt A1 từ chối thì K đã múc một thìa nước vui đưa lên miệng Việt A1 và Việt A1 đã uống thìa nước vui đó. Đến khoảng 02h00 ngày 11/3/2024 khi các đối tượng đang sử dụng trái phép chất ma tuý thì bị kiểm tra, bắt giữ. Các đối tượng khai L trực tiếp chuyển khoản tiền mua ma túy cho người bán và trực tiếp xuống lấy ma túy mang lên phòng cho các đối tượng cùng sử dụng, các đối tượng khác không phải đóng góp gì. H1 là người “xào” Ketamine, L pha nước vui cho các đối tượng sử dụng. H2 không biết L sử dụng ma túy cùng ai, ở đâu. Việc giúp L mua ma tuý, H2 không hưởng lợi gì.
Cơ quan điều tra đã tiến hành kiểm tra chất ma túy đối với Hồ Hải L, Nguyễn Thị H1, Phạm Thị Lệ T2, K, Nguyễn Thị Thu H2 đều cho kết quả dương tính với ma túy.
Đối với, Nguyễn Việt A1 khai nhận không tham gia bàn bạc, không góp tiền để mua ma túy chỉ được K mời đến để sử dụng. Công an quận Đ đã ra Quyết định xử phạt hành chính đối với Nguyễn Việt A1 về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy vi phạm vào khoản 1 điều 23 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021.
Đối với đối tượng bán ma tuý Ketamine, Phạm Thị Lệ T2 khai biết qua quan hệ xã hội, chỉ có tài khoản Zalo, không biết tên tuổi, địa chỉ, số điện thoại và chưa gặp bao giờ, không biết mặt. Sau khi lấy được ma tuý T2 đã xoá liên lạc và tài khoản Zalo của người bán ma tuý. Qua xác minh tại Ngân hàng T7, xác định chủ tài khoản số 19033462355013 tên Dương Đức V (Sinh ngày: 05/10/1996; CCCD số: [...]; Nơi thường trú: khu E, phường N, TP H, tỉnh Hải Dương, S1 điện thoại: 0975.320.xxx). Ghi lời khai V xác định: Anh V có sử dụng tài khoản ngân hàng trên, cuối ngày 09/3/2024, V tình cờ gặp một người bạn xã hội tên T3, T3 đã mượn số tài khoản ngân hàng trên của V để nhận tiền bán hàng online, anh V đồng ý. Về người bạn xã hội tên T3 đã nhờ V số tài khoản ngân hàng, V không rõ tên cụ thể, tuổi, địa chỉ, số điện thoại của người này, đã lâu V không liên lạc và không gặp lại T3. V không biết mục đích T3 nhờ tài khoản ngân hàng để thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, cơ quan điều tra không xác minh làm rõ được người bán ma túy cho Phạm Thị Lệ T2.
Về đối tượng bán ma tuý “nước vui”, Nguyễn Thị Thu H2 khai đã gặp và biết qua quan hệ xã hội, H2 chỉ biết tên là H5, có tài khoản T4 và tài khoản ngân hàng T7 số [...]. H2 không rõ tên cụ thể, tuổi, địa chỉ, số điện thoại của H5. H2 đã xoá liên lạc và tài khoản Telegram của H5. Qua xác minh tại Ngân hàng T7 xác định chủ tài khoản số [...] tên Lê Huy H6 (Sinh ngày: 27/11/1995; CCCD số: [...]; Nơi thường trú: Tổ B phường V, quận H, TP Hà Nội, Số điện thoại: 0986.131.xxx). Tại cơ quan Công an H6 khai: không sử dụng số tài khoản ngân hàng C và số điện thoại 0986.131.xxx. Bản thân H6 không biết và không bán ma tuý cho Nguyễn Thị Thu H2. Cơ quan điều tra đã tiến hành biện pháp điều tra nhận dạng. Tuy nhiên, H2 nhận dạng được H6 nhưng H6 không nhận dạng được H2. Tiến hành biện pháp đối chất giữa H2 và H6 các đối tượng vẫn giữ nguyên lời khai của bản thân. Cơ quan điều tra Công an quận Đ ra Quyết định tách hành vi, tài liệu về đối tượng Lê Huy H6 để tiếp tục xác minh làm rõ.
Về đối tượng giao ma túy, L khai không biết tên, tuổi, địa chỉ và số điện thoại, người này mặc quần áo xe công nghệ G, đeo khẩu trang. Do đó cơ quan điều tra không điều tra, xác minh, làm rõ được.
Vật chứng vụ án:
Gồm toàn bộ số tang vật dùng để phục vụ việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy của các đối tượng bị tạm giữ khi bắt quả tang. Ngoài ra, Cơ quan điều tra còn tạm giữ những đồ vật, tài sản như sau: Tạm giữ của L 01 điện thoại Iphone 12 Promax màu xanh; Tạm giữ của H2 01 điện thoại Iphone 15 Promax màu ghi; Tạm giữ của H1 01 điện thoại Iphone 15 Plus màu hồng và 01 loa nghe nhạc; Tạm giữ của T2 01 điện thoại Iphone 14 Promax màu tím; Tạm giữ của K 01 điện thoại Iphone 13 màu hồng; Tạm giữ của Việt A1 01 điện thoại Iphone 13 màu xanh đen. Cơ quan điều tra Công an chuyển đến chi Cục thi hành hành án dân sự quận Đ để xử lý theo quy định của pháp luật.
Cáo trạng số 251/CT-VKSĐĐ ngày 16/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa truy tố các bị cáo Hồ Hải L, Nguyễn Thị H1, Phạm Thị Lệ T2 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự, truy tố bị cáo K về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy theo khoản 1 Điều 255 Bộ luật hình sự, truy tố bị cáo Nguyễn Thị Thu H2 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b, khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.
* Tại phiên tòa, các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và rất ân hận với hành vi phạm tội của mình. Các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã truy tố, bị cáo L, bị cáo H1, bị cáo T2, bị cáo K thừa nhận việc bị truy tố về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật; bị cáo H2 thừa nhận việc bị truy tố về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
* Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố như cáo trạng đã nêu, sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điểm b khoản 2 Điều 255; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Hồ Hải L từ 07 năm 06 tháng tù đến 08 năm tù, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H1 từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù. Áp dụng: Điểm b khoản 2 Điều 255; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 2 Điều 54, Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Thị Lệ T2 từ 06 năm đến 06 năm 06 tháng tù. Áp dụng: Khoản 1 Điều 255; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo K từ 02 năm 03 tháng tù đến 02 năm 09 tháng tù, Áp dụng: Điểm b Khoản 1 Điều 251; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thu H2 từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu sung công quỹ 01 điện thoại Iphone 12 Promax màu xanh; 01 điện thoại Iphone 15 Promax màu ghi; 01 điện thoại Iphone 15 Plus màu hồng; 01 điện thoại Iphone 14 Promax màu tím; 01 điện thoại Iphone 13 màu hồng; 01 tờ tiền mệnh giá 20.000 đồng. Tịch thu tiêu huỷ: 01 hộp niêm phong dán kín có chữ kí giáp lai của Hồ Hải L, Nguyễn Thị H1, Phạm Thị Lệ T2, K, giám định viên, cán bộ Công an Nguyễn Ngọc T5, 01 bao niêm phong dán kín có chữ kí giáp lai của Hồ Hải L, Nguyễn Thị H1, Phạm Thị Lệ T2, K, giám định viên, cán bộ Công an Nguyễn Ngọc T5, 01 bọc niêm phong dán kín có chữ kí giáp lai của Hồ Hải L, Nguyễn Thị H1, Phạm Thị Lệ T2, K, giám định viên, cán bộ Công an Nguyễn Ngọc T5, 01 loa nghe nhạc màu xanh. Trả lại cho anh Nguyễn Việt A1 01 điện thoại Iphone 13 màu xanh đen.
Các bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt tiền. Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Nói lời sau cùng, các bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để sớm trở về với gia đình và trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng.
Các hành vi, quyết định của Điều tra viên, Cơ quan điều tra Công an quận Đ, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo nhận tội, không người tham gia tố tụng nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các tài liệu đã được thu thập trong hồ sơ vụ án là hợp pháp.
[2] Về thủ tục tố tụng: Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt. Đại diện Viện kiểm sát không có ý kiến về việc người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt và đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án. Xét thấy, việc vắng mặt người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không ảnh hưởng tới việc xét xử nên căn cứ Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiếp tục tiến hành xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.
[3] Về tội danh và điều luật áp dụng:
Tại phiên tòa các bị cáo công nhận nội dung bản cáo trạng đã nêu là đúng. Qua xét hỏi và tranh luận các bị cáo đều khai nhận hành vi phạm tội hoàn toàn phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, phù hợp với tang vật, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định: Khoảng 00h00 ngày 09/3/2024 Hồ Hải L rủ Nguyễn Thị H1 về nơi ở của H1 tại Phòng 604 số C Đê L, phường P, quận Đ, thành phố Hà Nội để sử dụng ma tuý, H1 đồng ý nên L mang theo 01 túi ma tuý nước vui cùng H1 sử dụng, đến khoảng 05 giờ ngày 09/3/2024 H1 rủ thêm K và Phạm Thị Lê T6 đến nhà H1 sử dụng ma tuý, K, T6, H1, L cùng nhau sử dụng ma tuý, sau khi hết ma tuý mà L mang đến, L nhờ T6 liên hệ mua thêm 01 chỉ ketamin với giá 3.300.000 đồng, T6 liên hệ qua Z và chuyển số tài khoản của người bán ma tuý cho L, L trả tiền qua tài khoản ngân hàng và trực tiếp xuống lấy ma tuý lên để cả nhóm sử dụng tiếp, trong khi sử dụng H1 là người xào ma tuý ke để tất cả sử dụng. Sau khi sử dụng hết ma tuý, đến 00h20 phút, 06 giờ 30 phút và 15 giờ 30 phút ngày 10/3/2024 L tiếp tục 03 lần nhờ Nguyễn Thị Thu H2 liên hệ mua 03 túi ma tuý nước vui (mỗi lần 01 túi), L trực tiếp thanh toán qua hình thức chuyển khoản bằng tài khoản ngân hàng cho người bán, tự xuống lấy ma tuý và tự pha ma tuý nước vui để cùng H1, T6, K tiếp tục sử dụng ma tuý. Đến khoảng 18 giờ ngày 10/3/2024, bị cáo K rủ Nguyễn Việt A1 đến sử dụng ma tuý và múc 01 thìa ma tuý nước vui đưa lên miệng để Việt A1 uống, K khi đến nhà H1 không bàn bạc và đóng góp gì để sử dụng ma tuý. Khoảng 02 giờ ngày 11/3/2024 cơ quan công an bắt quả tang các bị cáo L, H1, T6, K cùng toàn bộ tang vật và đưa về trụ sở Cơ quan công an làm rõ.
Do vậy, hành vi của các bị cáo Hồ Hải L, Nguyễn Thị H1, Phạm Thị Lệ T2 đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo tình tiết định khung tăng nặng “Đối với 02 người trở lên” được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự, hành vi của bị cáo K đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 255 Bộ luật hình sự, hành vi của bị cáo Nguyễn Thị Thu H2 đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo tình tiết định khung tăng nặng “Phạm tội 02 lần trở lên” được quy định theo điểm b, khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa truy tố các bị cáo để xét xử theo tội danh đã viện dẫn là có căn cứ, đúng pháp luật.
[4] Về vai trò, tính chất, mức độ của hành vi phạm tội của từng bị cáo:
Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, không có sự câu kết chặt chẽ và bàn bạc giữa các bị cáo.
Đối với bị cáo Hồ Hải L, Hội đồng xét xử xác định bị cáo giữ vai trò chính và cao nhất, bị cáo là người khởi xướng việc tổ chức sử dụng ma tuý, rủ bị cáo H1 về nơi ở của H1 để sử dụng ma tuý, chuẩn bị ma tuý nước vui và pha chế để cùng H1 sử dụng, sau khi sử dụng hết ma tuý mang theo, bị cáo tiếp tục nhờ Thu mua thêm ma tuý, trực tiếp trả tiền mua ma tuý, xuống lấy ma tuý mang lên để tất cả sử dụng, sau đó bị cáo đã tiếp tục 03 lần nhờ H2 mua thêm ma tuý nước vui, trực tiếp thanh toán tiền mua ma tuý, xuống lấy ma tuý và pha chế ma tuý để tổ chức cho chính bị cáo cùng H1, T2, K sử dụng.
Đối với bị cáo Nguyễn Thị H1 đã cung cấp địa điểm là nơi ở của mình để sử dụng trái phép chất ma tuý, sau đó bị cáo rủ bị cáo T2, bị cáo K đến để sử dụng ma tuý, chuẩn bị các công cụ như loa nghe nhạc, bát sứ, thẻ, tiền polyme...để sử dụng ma tuý và trực tiếp “xào” ma tuý ketamin để cho bị cáo và L, T2, K sử dụng, do vậy bị cáo đồng phạm với bị cáo L về hành vi “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” và giữ vai trò thứ hai sau bị cáo L.
Đối với bị cáo Phạm Thị Lê T6 được bị cáo H1 rủ đến sử dụng ma tuý, không bàn bạc hay đóng góp gì khi đến nhà H1 nhưng sau khi sử dụng hết ma tuý, bị cáo liên hệ với người bán ma tuý theo yêu cầu của L, T6 không trả tiền mua ma tuý, không xuống lấy ma tuý, do đó bị cáo T6 đồng phạm với các bị cáo L, H1 về hành vi “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” nhưng xét thấy hành vi có mức độ không đáng kể so với bị cáo L, bị cáo H1 nên xem xét cho bị cáo được hưởng mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt và trong khung hình phạt liền kề của điều luật theo khoản 2 Điều 54 Bộ luật hình sự để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật và cải tạo, giáo dục đối với bị cáo, tạo cơ hội cho bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.
Đối với bị cáo K được bị cáo H1 rủ đến sử dụng ma tuý, không bàn bạc hay đóng góp gì khi đến nhà H1 nhưng bị cáo có hành vi gọi Nguyễn Việt A1 đến sử dụng ma tuý và múc ma tuý nước vui cho Việt A1 uống, do đó hành vi của bị cáo K bị truy tố về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 255 Bộ Luật Hình Sự và có vai trò thấp nhất trong nhóm các bị cáo bị truy tố về tội “Tổ chức trái phép chất ma tuý”.
Đối với bị cáo Nguyễn Thị Thu H2, mặc dù không được hưởng lợi nhưng đã 03 lần liên hệ với người bán ma tuý qua Z để mua hộ ma tuý nước vui cho bị cáo L, hành vi của bị cáo H2 là mua bán trái phép chất ma tuý thuộc trường hợp định khung tăng nặng “Phạm tội 02 lần trở lên”.
Xét thấy, hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, làm gia tăng các tệ nạn xã hội và là nguyên nhân phát sinh những hành vi vi phạm pháp luật khác. Bản thân các bị cáo là người trưởng thành, có đầy đủ năng lực hành vi, nhận thức được tác hại nhiều mặt của ma túy đến sức khỏe và đời sống của con người nhưng vẫn thực hiện. Vì vậy việc đưa các bị cáo ra xét xử công khai tại phiên tòa và có một hình phạt tương xứng với hành vi của các bị cáo là cần thiết nhằm để giáo dục, cải tạo các bị cáo và góp phần đấu tranh phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt cũng cần xem xét đến nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và vai trò của từng bị cáo để có mức hành phạt phù hợp.
[5] Về nhân thân và tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Tại cơ quan điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bản thân tất cả các bị cáo đều có nhân thân tốt và lần đầu bị đưa ra truy tố, xét xử. Các bị cáo mặc dù đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự tuy nhiên nhận thức pháp luật chưa đầy đủ, chưa ý thức được hành vi mà mình thực hiện thuộc trường hợp phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” nên được áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra bị cáo Hồ Hải L có bố được Chủ tịch nước tặng thưởng huy chương chiến sĩ vẻ vang hạng nhất, hạng nhì, hạng ba, được Ban tặng huy hiệu 45 năm tuổi Đảng, mẹ bị cáo được Chủ tịch UBND quận T, Hà Nội tặng danh hiệu Chiến sỹ thi đua cơ sở, danh hiệu “người tốt, việc tốt”, Hội Chữ Thập Đ tặng huy chương vì sự nghiệp chữ thập đỏ Việt Nam và nhiều giấy khen khác. Bị cáo Nguyễn Thị Thu H2 có hoàn cảnh gia đình khó khăn, bản thân bị cáo bị bệnh tim đã phải điều trị và phẫu thuật tim tại Bệnh viện E và nhiều bệnh viện T8 nên dẫn đến việc buồn chán, suy sụp, ảnh hưởng đến tâm lý, ông ngoại của bị cáo H2 là người có công với cách mạng và được Nhà nước tặng thưởng nhiều danh hiệu và huân huy chương về sự nghiệp và đóng góp cho hai cuộc kháng chiến chống Mỹ và chống Pháp.
Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[6] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo đều không có việc làm và thu nhập nên miễn áp dụng hình phạt tiền.
[7] Về xử lý vật chứng:
- - Tang vật của vụ án cần tịch thu tiêu huỷ gồm: 01 đĩa sứ màu trắng đường kính khoảng 20cm có dính tinh thể màu trắng, 01 thẻ nhựa màu trắng, 01 vỏ túi nilon kích thước khoảng 2x2cm dính tinh thể màu trắng, 01 bát sứ màu trắng đường kính khoảng 15cm có dính chất lỏng màu đỏ, 01 thìa kim loại dài khoảng 20cm dính chất lỏng màu đỏ, 04 túi nilon màu đỏ trên bề mặt có chữ Ferrari kích thước mỗi túi khoảng 4x8cm đều dính chất bột màu cam.
- - Đối với 01 điện thoại Iphone 12 Promax màu xanh; 01 điện thoại Iphone 15 Promax màu ghi; 01 điện thoại Iphone 15 Plus màu hồng; 01 điện thoại Iphone 14 Promax màu tím; 01 điện thoại Iphone 13 màu hồng; 01 tờ tiền mệnh giá 20.000 đồng thu giữ của các bị cáo, đây là công cụ, phương tiện các bị cáo dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung công quỹ nhà nước.
- - Đối với 01 điện thoại Iphone 13 màu xanh đen thu giữ của Nguyễn Việt A1, xét thấy không liên quan đến tội phạm nên cần trả lại cho anh Nguyễn Việt A1.
[8] Các vấn đề khác:
Đối với, Nguyễn Việt A1 khai nhận không tham gia bàn bạc, không góp tiền để mua ma túy chỉ được K mời đến để sử dụng. Công an quận Đ đã ra Quyết định xử phạt hành chính đối với Nguyễn Việt A1 về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy vi phạm vào khoản 1 điều 23 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với đối tượng bán ma tuý Ketamine, Phạm Thị Lệ T2 khai biết qua quan hệ xã hội, chỉ có tài khoản Zalo, không biết tên tuổi, địa chỉ, số điện thoại và chưa gặp bao giờ, không biết mặt. Sau khi lấy được ma tuý T2 đã xoá liên lạc và tài khoản Zalo của người bán ma tuý. Qua xác minh tại Ngân hàng T7, xác định chủ tài khoản số 19033462355013 tên Dương Đức V (Sinh ngày: 05/10/1996; CCCD số: [...]; Nơi thường trú: khu E, phường N, TP H, tỉnh Hải Dương, S1 điện thoại: 0975.320.xxx). Ghi lời khai V xác định: Anh V có sử dụng tài khoản ngân hàng trên, cuối ngày 09/3/2024, V tình cờ gặp một người bạn xã hội tên T3, T3 đã mượn số tài khoản ngân hàng trên của V để nhận tiền bán hàng online, anh V đồng ý. Về người bạn xã hội tên T3 đã nhờ V số tài khoản ngân hàng, V không rõ tên cụ thể, tuổi, địa chỉ, số điện thoại của người này, đã lâu V không liên lạc và không gặp lại T3. V không biết mục đích T3 nhờ tài khoản ngân hàng để thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, cơ quan điều tra không xác minh làm rõ được người bán ma túy cho Phạm Thị Lệ T2 nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về đối tượng bán ma tuý “nước vui”, Nguyễn Thị Thu H2 khai đã gặp và biết qua quan hệ xã hội, H2 chỉ biết tên là H6, có tài khoản T4 và tài khoản ngân hàng T7 số [...]. H2 không rõ tên cụ thể, tuổi, địa chỉ, số điện thoại của H6. H2 đã xoá liên lạc và tài khoản Telegram của H6. Qua xác minh tại Ngân hàng T7 xác định chủ tài khoản số [...] tên Lê Huy H6 (Sinh ngày: 27/11/1995; CCCD số: [...]; Nơi thường trú: Tổ B phường V, quận H, TP Hà Nội, Số điện thoại: 0986.131.xxx). Tại cơ quan Công an H6 khai: không sử dụng số tài khoản ngân hàng C và số điện thoại 0986.131.xxx. Bản thân H6 không biết và không bán ma tuý cho Nguyễn Thị Thu H2. Cơ quan điều tra đã tiến hành biện pháp điều tra nhận dạng. Tuy nhiên, H2 nhận dạng được H6 nhưng H6 không nhận dạng được H2. Tiến hành biện pháp đối chất giữa H2 và H6 các đối tượng vẫn giữ nguyên lời khai của bản thân. Cơ quan điều tra Công an quận Đ ra Quyết định tách hành vi, tài liệu về đối tượng Lê Huy H6 để tiếp tục xác minh làm rõ nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về đối tượng giao ma túy, L khai không biết tên, tuổi, địa chỉ và số điện thoại, người này mặc quần áo xe công nghệ G, đeo khẩu trang. Do đó cơ quan điều tra không điều tra, xác minh, làm rõ được nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
1/ Tuyên bố: Bị cáo Hồ Hải L, Nguyễn Thị H1, Phạm Thị Lệ T2, K phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Bị cáo Nguyễn Thị Thu H2 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
2/ Áp dụng: Điểm b khoản 2 Điều 255; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo: Hồ Hải L 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính ngày 11/3/2024.
2.1 Áp dụng: Điểm b khoản 2 Điều 255; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo: Nguyễn Thị H1 07 (bảy) năm tù, thời hạn tù tính ngày 11/3/2024.
2.2 Áp dụng: Điểm b khoản 2 Điều 255; khoản 2 Điều 54; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Phạm Thị Lệ T2 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính ngày 11/3/2024.
2.3 Áp dụng: Khoản 1 Điều 255; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo K'Mơ 02 (hai) năm tù, thời hạn tù tính ngày 11/3/2024.
2.4 Áp dụng: Điểm b khoản 2 Điều 251; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Thu H2 07 (bảy) năm tù, thời hạn tù tính ngày 11/3/2024.
3/ Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Tịch thu sung công quỹ: 01 điện thoại Iphone 12 Promax màu xanh, không kiểm tra chất lượng và nội dung bên trong; 01 điện thoại Iphone 15 Promax màu ghi, không kiểm tra chất lượng và nội dung bên trong; 01 điện thoại Iphone 15 Plus màu hồng, không kiểm tra chất lượng và nội dung bên trong; 01 điện thoại Iphone 14 Promax màu tím, không kiểm tra chất lượng và nội dung bên trong; 01 điện thoại Iphone 13 màu hồng không kiểm tra chất lượng và nội dung bên trong; 01 tờ tiền polyme mệnh giá 20.000 đồng.
Tịch thu tiêu huỷ: 01 hộp niêm phong dán kín có chữ kí giáp lai của Hồ Hải L, Nguyễn Thị H1, Phạm Thị Lệ T2, K, giám định viên, cán bộ Công an Nguyễn Ngọc T5, 01 bao niêm phong dán kín có chữ kí giáp lai của Hồ Hải L, Nguyễn Thị H1, Phạm Thị Lệ T2, K, giám định viên, cán bộ Công an Nguyễn Ngọc T5, 01 bọc niêm phong dán kín có chữ kí giáp lai của Hồ Hải L, Nguyễn Thị H1, Phạm Thị Lệ T2, K, giám định viên, cán bộ Công an Nguyễn Ngọc T5, 01 loa nghe nhạc màu xanh, không kiểm tra chất lượng và nội dung bên trong.
Trả lại cho anh Nguyễn Việt A1 01 điện thoại Iphone 13 màu xanh đen, không kiểm tra chất lượng và nội dung bên trong.
Hiện các vật chứng trên đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Đống Đa, thành phố Hà Nội theo biên bản giao nhận vật chứng số 291 ngày 26/8/2024 giữa Công an quận Đ và Chi cục Thi hành án dân sự quận Đống Đa, thành phố Hà Nội, Giấy nộp tiền vào tài khoản số 3949.0.1049185 ngày 01/8/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự quận Đống Đa tại K quận Đ, thành phố Hà Nội.
4/ Án phí và quyền kháng cáo:
Áp dụng: Điều 136, Điều 331, Điều 333, Điều 336, Điều 337 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
- Điều 21, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, danh mục án phí kèm theo.
Các bị cáo Hồ Hải L, Nguyễn Thị H1, Phạm Thị Lệ T2, K, Nguyễn Thị Thu H2 mỗi người phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn) án phí hình sự sơ thẩm. Án xử công khai sơ thẩm, các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Thanh Tùng |
Bản án số 274/2024/HS-ST ngày 16/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy; mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 274/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy; Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý
