|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƠN TRẠCH TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 274/2023/HS-ST. Ngày: 14-11-2023 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƠN TRẠCH – TỈNH ĐỒNG NAI
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Đình Hiền.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Kim Xuyến
Bà Trần Thanh Phương
- Thư ký phiên Tòa: Bà Nguyễn Thị Thu là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Sơn - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 11 năm 2023, Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 270/2023/TLST - HS ngày 10 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 380/2023/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 10 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên Tòa số 1018/2023/HSST - QĐ ngày 31/10/2023 đối với bị cáo:
Nguyễn Thị L
sinh năm 1993 tại Hà Tĩnh. Nơi đăng ký HKTT: ấp N, xã V, huyện N, tỉnh Đồng Nai. Chỗ ở hiện nay: ấp N, xã V, huyện N, tỉnh Đồng Nai. Dân tộc: Kinh; tôn giáo: Thiên chúa; trình độ học vấn: Lớp 12/12; Nghề nghiệp: Tự do; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn L1, sinh năm 1948 và bà Trần Thị Q, sinh năm 1948; có chồng tên Nguyễn Trường T, sinh năm 1993; có 01 con sinh năm 2020; Tiền án: không; Tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú (Bị cáo có mặt).
Bị hại: Phạm Thị Phương T1
( chết ).
Đại diện hợp pháp cho bị hại:
Bà Bùi Thị N, sinh năm 1968
Ông Phạm Văn T2, sinh năm 1966
Cùng địa chỉ: Thôn Đ, xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình.
Bà N và ông T2 cùng ủy quyền cho anh Lê Văn T3, sinh năm 1992
Địa chỉ: Thôn V, xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình.
Tạm trú: Ấp N, xã V, huyện N, tỉnh Đồng Nai.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Trần Viết L2, sinh năm 1993.
Địa chỉ: Ấp B, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ 00 phút ngày 01/11/2022, Nguyễn Thị L có giấy phép lái xe hạng A1 theo quy định điều khiển xe mô tô hiệu Vision biển số 38P1-561.64 chở con tên là Nguyễn Thiên Ý (sinh năm 2020) ngồi ở baga trước và chị Phạm Thị Phương T1 (sinh năm 1998) bế con của T1 ngồi ở phía sau (T1 và con T1 không đội mũ bảo hiểm) từ nhà L ở lề phải đường H (tính theo hướng xã P đi xã P, đoạn đường thuộc ấp N, xã V, huyện N, tỉnh Đồng Nai) ra đường. L tiếp tục điều khiển xe mô tô 38P1-561.64 chuyển hướng từ lề phải sang lề trái và chếch về hướng xã P. Cùng lúc này, trên đường H có xe mô tô biển số 66B1-831.36 do Trần Viết L2 điều khiển lưu thông hướng xã P đi xã P chạy tới. Do L không chú ý quan sát, chuyển hướng bất ngờ nên L2 không xử lý kịp dẫn đến bánh trước xe mô tô biển số 66B1-831.36 do L2 điều khiển đã đụng vào hông trái xe mô tô 38P1-561.64 do L điều khiển là 02 xe và người ngồi trên xe ngã xuống đường. Hậu quả vụ tai nạm làm chị T1 đã tử vong. (Bút lục số 21 – 60, 86 - 100).
Tại Biên bản khám nghiệm hiện trường lúc 20 giờ 40 phút ngày 02/11/2022 của Công an huyện N xác định: Hiện trường vụ tai nạn giao thông xảy ra tại km 21+300 trên đường H thuộc ấp N, xã V, huyện N, tỉnh Đồng Nai.
+ Mặt đường khi xảy ra vụ tai nạn là đường H được trải nhựa bằng phẳng, có vạch sơn kẻ đường không liên tục phân chia mặt thành hai chiều đường xe chạy, mỗi làn rộng 3,5m. Đường thẳng, không cong cua và có đèn đường chiếu sáng, tầm nhìn không bị hạn chế.
+ Lấy mép đường bên phải theo chiều đi từ xã P về xã P làm mép chuẩn.
+ Vị trí xe mô tô biển số 66B1-831.36 do Trần Viết L2 điều khiển (ký hiệu là 1): Sau tai nạn xe mô tô nằm nghiêng bên trái, đầu xe hướng về mép đường bên trái hơi chếch hướng đi xã P; đuôi xe hướng về chiều ngược lại. Khoảng cách từ tâm đầu trục bánh trước bên phải đo vuông góc đến mép chuẩn là 3,5m; đầu tâm trục bánh sau bên phải đo vuông góc đến mép chuẩn là 2,5m.
+ Vị trí xe mô tô biển số 38P1-561.64 do Nguyễn Thị L điều khiển (ký hiệu là 2): Sau tai nạn xe mô tô nằm ngã nghiêng bên phải trên mặt đường, đầu xe hướng về chiều đi xã P, đuôi xe hướng chiều ngược lại. Khoảng cách từ đầu tâm trục hình bánh trước bên trái đo vuông góc đến mép chuẩn là 2,5 mét; đầu tâm trục bánh sau bên trái đo vuông góc đến mép chuẩn là 2,7m; đo đến đầu tâm trục bánh sau bên phải xe mô tô biển số 66B1-831.36 là 1,45m; đầu tay cầm bên phải đo vuông góc vào mép chuẩn là 1,8m.
+ Vết máu 1 (ký hiệu là 3): rộng 0,5 x 0,3m, tâm vết máu cách tâm trục đầu trục bánh sau bên trái xe mô tô biển số 66B1-831.36 là 1,3m, cách mép chuẩn là 3,4m.
+ Vết máu 2 (ký hiệu là 7): rộng 0,2 x 0,2m, tâm vết máu cách mép chuẩn là 3,3m; cách tâm vết máu (3) là 2,6m.
+ Vết cày 1 (ký hiệu 4): đầu vết cày cách mép chuẩn là 3,5m.
+ Vết cày 2 (ký hiệu 5): đầu vết cày đo đến đầu tay cầm lái bên phải xe mô tô BKS: 38P1-561.64 là 3,65m; đo vuông góc đến mép chuẩn là 2,45m.
+ Vết cày 3 (ký hiệu 6): đầu vết cày cách mép chuẩn là 3,55m; cách đầu tay cầm lái xe mô tô biển số 66B1-831.36 là 3m.
+ Trụ điện số 4780 nằm ngoài lề đường bên phải cách mép chuẩn 0,4m; cách đầu tâm trục bánh sau bên trái xe mô tô biển số 66B1-831.36 là 7,7m.
- Tại Biên bản khám xe mô tô biển số 66B1-831.36 của Công an huyện N xác định:
+ Vị trí lốp trước của bánh xe có vết mài mòn chiều rộng 5x6cm, đây là điểm va chạm.
+ Vị trí mặt nạ trước có vết mài mòn theo chiều hướng từ trên xuống có chiều rộng 14x17cm.
+ Vị trí yếm chắn gió phía trước bên trái bị bung các khớp nối.
+ Vị trí hộp dựng dầu phanh phía trước bên phải có vết mài mòn kim loại theo chiều hướng từ trên xuống dài 03cm.
+ Vị trí ốp nhựa phía trước bên trái đèn chiếu sáng có vết mài mòn theo chiều hướng từ trước về sau có chiều rộng 08 x 09cm.
+ Đèn xi nhan phía trước bên trái bị gãy rời.
+ Vị trí phuộc trước bên trái bị gập cong theo chiều hướng từ trước về sau.
+ Vị trí phuộc trước bên phải bị gập cong theo chiều hướng từ trước về sau.
+ Vị trí yếm chắn bùn phía trước bên phải bị gãy có chiều rộng 03 x 07cm.
+ Vị trí ốp nhựa bên hông xe phía trước bên phải bị gãy lìa khỏi vị trí ban đầu.
- Tại Biên bản khám xe mô tô biển số 38P1-561.64 của Công an huyện N xác định:
+ Vị trí tay cầm lái bên phải có vết mài mòn kim loại, chiều rộng 02 x 02cm.
+ Vị trí khớp nối ốp gầm bên phải có vết mài mòn kim loại, bị bung khớp nối.
+ Vị trí gác chân sau bên phải có vết mài mòn kim loại, chiều rộng 03 x 03cm.
+ Vị trí ốp nhựa bô xe có vết mài mòn và gãy làm đôi, chiều rộng vết gãy 02 x 02cm.
+ Vị trí gác chắn phía bên phải trên yếm xe có vết mài mòn kim loại chiều rộng 02 x 02 cm.
+ Vị trí khớp nối giữa ốp hông xe và ốp thân xe bên trái bị bung khớp nối.
+ Vị trí ốp gầm bên trái bị gãy lìa khỏi vị trí ban đầu bề rộng 13 x 30cm.
+ Vị trí ốp chắn bùn bên phải phía trước bị gãy làm hai có chiều rộng 01 x 06cm
+ Vị trí hộp máy bên trái có vết mài mòn theo chiều hướng từ dưới lên có chiều rộng 10 x 10cm, đây là điểm va chạm.
Tại bản kết luận giám định pháp y về tử thi qua hồ sơ bệnh án số 338/KL-KTHS ngày 17 tháng 02 năm 2023 của Phòng K - Công an tỉnh Đ kết luận nguyên nhân tử vong đối với Phạm Thị Phương T1 là:
+ Dấu hiệu chính: Bệnh nhân được chuyển tới bệnh viện trong tình trạng hôn mê, Glasgow 3 điểm. Chụp CT-Scanner sọ não: Theo dõi phù não hai bán cầu, dạp xuất huyết não trán hai bên, xuất huyết khoang dưới nhện, xuất huyết dọc liền não, lều tiểu não, nứt sọ thái dương, đỉnh, chấm trán, nứt cung gò má trái, thân xương bướm. Kết quả chụp X-quang: Theo dõi dập phổi.
+ Nguyên nhân tử vong: Chấn thương sọ não và vùng mặt nặng nứt xương hộp sọ, dập xuất huyết não, xuất huyết khoang dưới nhện, xuất huyết dọc liềm não, lều tiểu não, nứt cung gò má và thân xương bướm.
Vật chứng sau khi thu giữ, Cơ quan điều tra đã giao trả:
+ 01 xe mô tô biển số 38P1-561.64 cho Nguyễn Thị L.
+ 01 xe mô tô biển số 66B1-831.36 cho Trần Viết L2.
Nguyễn Thị L đã bồi thường cho gia đình bị hại Phạm Thị Phương T1 số tiền là 100.000.000 đồng. Đại diện hợp pháp của gia đình bị hại làm đơn bãi nại cho L.
Quá trình điều tra bị can Nguyễn Thị L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ.
Tại bản cáo trạng số 257/CT.VKS-NT ngày 05/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai truy tố bị cáo Nguyễn Thị L về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch giữ nguyên quyết định truy tố như cáo trạng và đề nghị:
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 65; Bộ luật Hình sự năm 2015 để xử phạt bị cáo Nguyễn Thị L từ 16 đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo.
Về trách nhiệm dân sự:
- Nguyễn Thị L đã bồi thường cho gia đình bị hại Phạm Thị Phương T1 số tiền là 100.000.000 đồng. Đại diện hợp pháp của gia đình bị hại làm đơn bãi nại cho L không có yêu cầu bồi thường gì thêm nên không đặt ra giải quyết.
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên Tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng truy tố. Bị cáo Nguyễn Thị L không tranh luận với bản luận tội của Kiểm sát viên, bị cáo nói lời nói sau cùng xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức án cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, đại diện bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2].Về trách nhiệm hình sự: Vào lúc 20 giờ 10 phút ngày 02/11/2022 tại km 21+ 300 đường H thuộc ấp N, xã V, huyện N, tỉnh Đồng Nai, Nguyễn Thị L (có giấy phép lái xe mô tô hạng A1 theo quy định) điều khiển xe mô tô biển số 38P1-561.64 chuyển hướng qua đường không đảm bảo an toàn nên đã xảy ra va chạm với xe mô tô biển số 66B1-831.36 do Trần Viết L2 điều khiển. Hậu quả vụ tai nạm làm chị Phạm Thị Phương T1 bị tử vong. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, đã thực hiện hoàn thành hành vi phạm tội nên có đủ căn cứ và cơ sở để xác định hành vi của bị cáo phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự. Do đó, cáo trạng số 257/CT.VKS-NT ngày 05/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch truy tố đối với bị cáo là có căn cứ.
[3]. Về nhân thân, tính chất mức độ của hành vi phạm tội và tình tiết tăngnặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt.
Tính chất, mức độ của hành vi: Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông trong hoạt động giao thông đường bộ, đồng thời xâm phạm đến sức khỏe, tính mạng của người khác được pháp luật bảo vệ. Nguyên nhân gây ra tai nạn là do bị cáo không tuân thủ đúng quy tắc khi tham gia giao thông đường bộ, chuyển hướng qua đường không đảm bảo an toàn nên đã xảy ra va chạm với xe mô tô biển số 66B1-831.36 do Trần Viết L2 điều khiển. Hậu quả vụ tai nạm làm chị Phạm Thị Phương T1 bị tử vong, nên cần áp dụng hình phạt nghiêm tương xứng với hành vi của bị cáo nhằm giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đã bồi thường khắc phục hậu quả, đại diện bị hại cũng có đơn bãi nại cho bị cáo, bị cáo hiện đang nuôi con nhỏ sinh năm 2020. Vì vậy cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 cho bị cáo khi quyết định hình phạt nhằm thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật hình sự.
Xét thấy bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, không tiền án tiền sự, đã bồi thường khắc phục hậu quả, bị hại cũng có đơn xin bãi nại, hiện đang nuôi con nhỏ. Bị cáo cũng không trực tiếp gây ra tai nạn cho bị hại mà do lỗi vô ý thiếu quan sát khi chuyển hướng qua đường đã xảy ra va chạm với xe môtô của L2 gây tử vong cho bị hại. Trong thời gian tại ngoại không có vi phạm gì thể hiện việc tự cải tạo bản thân tốt nên không cần thiết xét xử hình phạt tù giam mà xét xử cho bị cáo hưởng án treo theo Điều 65 Bộ luật hình sự và ấn định thời gian thử thách đối với bị cáo cũng đủ tính răn đe giáo dục.
Đối với Trần Viết L2 có giấy phép lái xe theo quy định, điều khiển xe đi đúng phần đường, không có căn cứ xác định L2 vi phạm tốc độ nên cơ quan Cảnh sát điều tra không truy cứu trách nhiệm hình sự là đúng quy định
[4.].Về xử lý vật chứng:
+ 01 xe mô tô biển số 38P1-561.64 của Nguyễn Thị L; 01 xe mô tô biển số 66B1-831.36 của Trần Viết L2 cơ quan cảnh sát Điều tra công an huyện N đã trả lại cho Nguyễn Thị L, Trần Viết L2.
[5 ] .Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại. Đại diện bị hại không có yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xem xét giải quyết.
[6]. Về án phí sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Thị L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch về tội danh, điều luật áp dụng và mức hình phạt là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 326, Điều 327 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị L phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018; Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhấn dân tối cao
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị L 01 (một) năm 02 (hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 năm 04 (bốn) tháng tính từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo Nguyễn Thị L cho UBND xã V, huyện N, tỉnh Đồng Nai nơi bị cáo cư trú giám sát giáo dục.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Nguyễn Thị L phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng đại diện bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt hợp lệ bản án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Đình Hiền |
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
|
Hội thẩm nhân dân Lê Thị Kim Xuyến- Trần Thanh Phương |
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Đặng Đình Hiền |
Bản án số 274/2023/HS-ST ngày 14/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƠN TRẠCH – TỈNH ĐỒNG NAI về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 274/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƠN TRẠCH – TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Loan điều khiển xe máy chở bị hại khi qua đường thiếu quan sát gấy va chạm giao thông làm bị hại tử vong
