|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 274/2024/DS-ST Ngày 13 – 12 – 2024 V/v tranh chấp hụi |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thúy Dung.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Đoàn Thị Sim.
Ông Nguyễn Minh Trọn.
- Thư ký phiên toà: Bà Đoàn Thị Tú là Thư ký Toà án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.
Ngày 13 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Tân xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số: 497/2024/TLST - DS ngày 15 tháng 10 năm 2024, về việc “Tranh chấp hụi” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 411/2024/QĐXXST - DS ngày 12 tháng 11 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Lê Thị Ng, sinh năm: 1993 (Có mặt).
Địa chỉ cư trú: Ấp Hiệp Th, xã Việt Thg, huyện Phú T, tỉnh Cà Mau.
Bị đơn: Ông Mã Văn L, sinh năm: 1970 (Có mặt).
Bà Trịnh Thị Nh, sinh năm: 1970 (Vắng mặt).
Cùng địa chỉ: Ấp Hiệp Th, xã Việt Th, huyện Phú T, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 15/10/2024 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án được bổ sung tại phiên tòa nguyên đơn chị Lê Thị Ng trình bày:
Chị có chơi hụi do vợ chồng ông Mã Văn L, bà Trịnh Thị Nh làm chủ và đứng ra tổ chức thu tiền hụi viên. Trong quá trình tham gia chơi hụi, vợ chồng ông Mã Văn L, bà Trịnh Thị Nh tuyên bố bể hụi và còn nợ chị số tiền của dây hụi, cụ thể như sau:
Dây thứ hụi trị giá 2.000.000 đồng (hai triệu đồng), mở vào ngày 15 tháng 8 năm 2021 âm lịch, hụi gồm có 41 chưng, mỗi tháng khui một lần vào ngày 15 hàng tháng, chị tham gia 03 chưng, tiền huê hồng hụi 1.000.000 đồng. Trong danh sách dây hụi trên với tên là Cô Ng ở vị trí thứ 04, 05 và 06 trong giấy tờ hụi. Khi tham gia chơi hụi, chị đã đóng hụi đúng và đầy đủ theo thoả thuận với vợ chồng ông L, bà Nh. Tuy nhiên, khi chị đóng hụi được đến lần thứ 33, thì ngày 20/4/2024 âm lịch vợ chồng ông L, bà Nh tuyên bố đình hụi không rõ lý do và cũng không tính toán để hoàn trả lại cho chị số tiền nợ hụi đã đóng. Cụ thể số tiền chị được hưởng đối với dây hụi này là: 03 chưng x 33 lần đóng x 2.000.000 đồng = 198.000.000 (Một trăm chín mươi tám triệu đồng). Sau khi chị có đơn yêu cầu Chính quyền địa phương hòa giải thì giữa chị với ông L, bà Nh có thỏa thuận số tiền nêu trên sau khi trừ đi tiền cò 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng) còn lại là 195.000.000 đồng (Một trăm chín mươi lăm triệu đồng). Vợ chồng ông L, bà N có hứa trả cho chị định kỳ hàng tháng với số tiền là 6.000.000 đồng (Sáu triệu đồng). Tuy nhiên, cho đến nay thì ông L, bà Nh mới chỉ thanh toán cho chị được số tiền 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng). Số tiền nợ hụi còn lại là 193.000.000 đồng (Một trăm chín mươi ba triệu đồng) vẫn chưa thanh toán cho chị. Mặc dù chị đã nhiều lần liên hệ để yêu cầu vợ chồng ông Mã Văn L và bà Trịnh Thị Nh phải trả nợ theo thỏa thuận cho chị nhưng không được. Nay chị yêu cầu Tòa án buộc vợ chồng ông Mã Văn L và bà Trịnh Thị Nh thanh toán số tiền tổng cộng là 193.000.000 đồng (Một trăm chín mươi ba triệu đồng).
Tại phiên tòa chị Nghĩa yêu cầu Tòa án giải quyết: Buộc vợ chồng ông Mã Văn L, bà Trịnh Thị Nh phải thanh toán cho chị số tiền hụi là 189.000.000 đồng (Một trăm tám mươi chín triệu đồng), ngoài ra không yêu cầu gì thêm.
Quá trình giải quyết vụ án được bổ sung tại phiên tòa bị đơn bà Trịnh Thị Nh trình bày: Trước đây vợ chồng bà có tổ chức chơi hụi do vợ chồng bà làm chủ hụi, chị Lê Thị Ng là hụi viên. Quá trình chơi hụi do các hụi viên khác hốt hụi và không đóng tiền hụi chết lại cho vợ chồng bà dẫn đến vợ chồng bà mất khả năng thanh toán nên vợ chồng bà có mời các hụi viên đến và thông báo đình hụi. Đối với dây hụi này vợ chồng bà còn nợ chị Ng số tiền là 189.000.000 đồng (Một trăm tám mươi chín triệu đồng). Theo bà Nh, ông Mã Văn L bận đi làm nên không đi đến Tòa án được. Nay chị Ng yêu cầu vợ chồng bà thanh toán cho chị Ng số tiền 189.000.000 đồng (Một trăm tám mươi chín triệu đồng) thì vợ chồng bà đồng ý.
Đối với ông Mã Văn L trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tống đạt hợp lệ quyết định phân công thẩm phán, thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa và giấy triệu tập nhiều lần cho ông Mã Văn L đầy đủ, đúng theo quy định pháp luật nhưng ông L vẫn vắng mặt không rõ lý do và không có văn bản thể hiện ý kiến, cũng không có đơn phản tố gửi cho Tòa án, không gửi văn bản ý kiến về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Tranh chấp giữa nguyên và bị đơn được xác định là tranh chấp hụi, ông Mã Văn L, bà Trịnh Thị Nh là bị đơn, có nơi cư trú tại ấp Hiệp Th, xã Việt Thg, huyện Phú T, tỉnh Cà Mau nên vụ án thuộc thẩm quyền của Toà án nhân dân huyện Phú Tân theo quy định tại Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Ông Mã Văn L đã được Tòa án tiến hành tống đạt hợp lệ thủ tục tố tụng nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông L theo quy định tại các Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Tại phiên tòa nguyên đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện: Chị Ng xác định chỉ yêu cầu vợ chồng ông Mã Văn L, bà Trịnh Thị Nh thanh toán số tiền hụi còn thiếu là 189.000.000 đồng. Xét thấy, việc nguyên đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện là sự tự nguyện và là quyền tự định đoạt của đương sự, không vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
- Về nội dung tranh chấp của vụ án: Nguyên đơn xác định các bị đơn còn nợ nguyên đơn số tiền hụi là 189.000.000 đồng, đây là tổng số tiền hụi của 03 chưng hụi trong 01 dây hụi do các bị đơn là chủ hụi.
Xét yêu cầu của nguyên đơn Hội đồng xét xử thấy: Việc thỏa thuận tổ chức chơi hụi giữa các đương sự là hoàn toàn tự nguyện, mục đích và nội dung giao dịch không trái pháp luật. Khi vợ chồng ông L, bà Nh tổ chức chơi hụi, mời các hụi viên cùng nhau góp vốn có lập danh sách hụi viên tuy không đăng ký, không được chứng thực của cơ quan có thẩm quyền nhưng theo lời trình bày của nguyên đơn và sự thừa nhận của bị đơn bà Trịnh Thị Nh nên đây là sự thật nguyên đơn không cần phải chứng minh. Đối với ông L quá trình Tòa án giải quyết vụ án ông L không đến Tòa cũng không gửi ý kiến để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình, không cung cấp chứng cứ chứng minh. Chính vì vậy Hội đồng xét xử căn cứ vào chứng cứ mà nguyên đơn và bị đơn bà Trịnh Thị Nh cung cấp để giải quyết vụ án hoàn toàn phù hợp.
Với phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử thấy rằng cần buộc các bị đơn có trách nhiệm thanh toán cho nguyên đơn tổng số tiền hụi là 189.000.000 đồng (Một trăm tám mươi chín triệu đồng) là phù hợp.
- Trong số tiền hụi nguyên đơn yêu cầu có phần lãi hụi. Quá trình giải quyết và tại phiên tòa nguyên đơn không đặt ra yêu cầu điều chỉnh nên Hội đồng xét xử không xem xét việc điều chỉnh.
- Về thời gian và phương thức thanh toán: Nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán theo thỏa thuận tại địa phương số tiền hụi còn thiếu. Hội đồng xét xử xét thấy, việc thanh toán thuộc thẩm quyền giải quyết của Cơ quan thi hành án sau khi bản án có hiệu lực pháp luật nên không đề cập xem xét trong vụ án này.
- Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch nguyên đơn không phải chịu, bị đơn phải chịu án phí theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 186, 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 471 Bộ luật Dân sự;
Căn cứ Điều 15, Điều 18, Điều 21, khoản 2 Điều 22, Điều 23, Điều 25 Nghị định 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ quy định về họ, hụi, biêu, phường.
Căn cứ Điều 27, Điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình.
Căn cứ Điều 12, điểm b khoản 1, khoản 3 Điều 24, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- - Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của chị Lê Thị Ng.
- - Buộc vợ chồng ông Mã Văn L, bà Trịnh Thị Nh thanh toán cho chị Lê Thị Ng số tiền hụi là 189.000.000 đồng (Một trăm tám mươi chín triệu đồng).
- Kể từ ngày chị Lê Thị Ng có đơn yêu cầu thi hành án, ông Mã Văn L, bà Trịnh Thị Nh không tự nguyện thi hành xong, thì phải trả thêm khoản lãi phát sinh theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành.
- Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Mã Văn L, bà Trịnh Thị Nh phải chịu số tiền 9.450.000 đồng (Chín triệu, bốn trăm năm mươi nghìn đồng, chưa nộp).
- Chị Lê Thị Ng không phải chịu án phí. Ngày 15/10/2024, chị Lê Thị Ng đã dự nộp số tiền tạm ứng án phí là 4.825.000 đồng (Bốn triệu, tám trăm hai mươi lăm nghìn đồng) theo biên lai số 0003936 được nhận lại toàn bộ khi bản án có hiệu lực.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Các đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (Đã ký) Lê Thúy Dung |
Bản án số 274/2024/DS-ST ngày 13/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp hụi
- Số bản án: 274/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hụi
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/12/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 186, 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Căn cứ Điều 471 Bộ luật Dân sự; 3 Căn cứ Điều 15, Điều 18, Điều 21, khoản 2 Điều 22, Điều 23, Điều 25 Nghị định 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ quy định về họ, hụi, biêu, phường. Căn cứ Điều 27, Điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình. Căn cứ Điều 12, điểm b khoản 1, khoản 3 Điều 24, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử: - Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của chị Lê Thị Ng. Buộc vợ chồng ông Mã Văn L, bà Trịnh Thị Nh thanh toán cho chị Lê Thị Ng số tiền hụi là 189.000.000 đồng (Một trăm tám mươi chín triệu đồng). Kể từ ngày chị Lê Thị Ng có đơn yêu cầu thi hành án, ông Mã Văn L, bà Trịnh Thị Nh không tự nguyện thi hành xong, thì phải trả thêm khoản lãi phát sinh theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành. Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Mã Văn L, bà Trịnh Thị Nh phải chịu số tiền 9.450.000 đồng (Chín triệu, bốn trăm năm mươi nghìn đồng, chưa nộp). Chị Lê Thị Ng không phải chịu án phí. Ngày 15/10/2024, chị Lê Thị Ng đã dự nộp số tiền tạm ứng án phí là 4.825.000 đồng (Bốn triệu, tám trăm hai mươi lăm nghìn đồng) theo biên lai số 0003936 được nhận lại toàn bộ khi bản án có hiệu lực. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. Các đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
